Mai Phạm
Nhạc và lời: Mai Phạm; Tiếng hát: Bich Hảo
Bản ký âm PDF
Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3.
Mai Phạm
Nhạc và lời: Mai Phạm; Tiếng hát: Bich Hảo
Bản ký âm PDF
Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3.
Đỗ Xuân Tê
(Chuyện viết theo hư cấu, tác giả không trách nhiệm nếu có trùng hợp.)
Những ngày cuối năm theo lệ thường ở quê ta người ta đi lại mua bán sắm sửa có phần tấp nập hơn. Chuyến xe đò về Tân Trụ chẳng còn một chỗ trống. Từ thị xã Long An về đây qua con lộ quê tuy chỉ hơn ba chục cây số nhưng khách trên xe cứ kiên nhẫn trò chuyện vì thời gian có qua mau nhưng tình quê chẳng bao giờ dứt.
Thị trấn này vẫn là địa đầu của một thành phố nửa tỉnh nửa quê, người ta về miền Tây cũng nhanh lên Sài gòn cũng tiện, có đặc điểm thời nào cũng sản sinh ra những người hoạt động cho cả hai bên. Nói hai bên cho tiện chứ thật ra khó phân biệt ranh giới, chẳng qua vì lý tưởng vì hoàn cảnh chứ mỗi lần hưu chiến mấy ông quan giầy sô xe Jeep vẫn ngồi cạnh mấy bác AK chén chú chén anh, súng để ngoài hè hát hò vọng cổ. Hết hưu chiến ai về nhà nấy bắn nhau diệt nhau không thương tiếc vì nói cho cùng trong chiến tranh khi đối thủ là những kẻ thù dấu mặt thì ‘bắn chậm là chết’ chấm hết . com
Đọc tiếp »
Hoàng Xuân Sơn
cây ốm lao sinh chạy về lưu vực
sông
những chỏm nhà nổi trôi
em không thể nào hiểu được ngàn lau
đã có một thời mây trắng tóc
[thời hiển hách của ngọn cờ]
lắng về sự thờ ơ chim trời
giữa vụng thuyền neo lạt buộc
nơi anh từng lớn lên theo lũ chuồn chuồn cắt rốn
chao đảo mồ côi những cuộc mò sên ốc
đằng đằng hệ sóng sinh hoa
trên những mõm bèo trôi biệt xứ
Đọc tiếp »
Hồ Chí Bửu
Hương nào trong gió thoáng bay
Ngất ngây một chút mà say đắng lòng
Có gì trong cõi hư không ?
Mùa Xuân một chút nắng hồng nhạt phai
Ta còn đây chén rượu cay
Cạn cho quên hết một ngày..lẻ loi
Nắng chiều, một vệt vàng soi
Hoàng hôn chưa đến đã đòi bình minh
Đọc tiếp »
Du Tử Lê
Cách đây chưa lâu, một người bạn không thuộc giới làm thơ hay viết văn, nhưng là người nặng lòng với văn chương Việt, ông hỏi tôi, đại ý: Theo tôi thì trong hàng ngũ những người nữ, viết văn, làm thơ sau biến cố tháng 4-1975, ai là người có được cho mình, sự thành tựu ở cả hai phương diện thi ca và văn xuôi? Chừng sợ tôi không nắm được câu hỏi, ông mượn một hình ảnh rất “ấn tượng” trong kho chuyện chưởng của Kim Dung: Hình ảnh “song kiếm hợp bích”.
Tôi hỏi lại trí nhớ mình. Trí nhớ tôi, sau đấy, đã cho người hỏi câu trả lời, đại ý:
“Theo cảm nhận riêng của tôi thì một trong những nữ đạt tới mức độ “song kiếm hợp bích” đó là Nguyễn Thị Khánh Minh”.
Đọc tiếp »
Nguyễn Thị Khánh Minh
Có tiếng chim nhại tiếng rơi chiều
Níu chút nắng hoe vàng ngọn cỏ
Níu tiếng xe về qua ngõ. Reo chuông
Vườn vắng. Người ngồi nghe lá rụng
Giật mình vai áo dấu tay phai
Ơ hờ thế. Ly nước đầy trong tay. E sẽ đổ
Đọc tiếp »
Đinh Cường
Thôi trái tim thuỷ tinh
Đựng chi buồn quá lửa
( Nguyễn Thị Khánh Minh )
Bóng Bay, Gió Ơi
làm cho tôi như thấy lại
những chiếc bong bóng
bay trên thành phố Paris
nhớ lại phim Le ballon rouge
xem đã từ lâu lắm
mà nay vẫn còn thích
với cậu bé và chiếc bong bóng
đỏ đi suốt những hẻm phố
Paris. phim thật đơn giản
của Albert Lamorisse
mà sao làm lòng ta cảm động
làm lòng ta vui quá đỗi
Đọc tiếp »
Kim-Chi
Nàng mừng rỡ đậu xe vào chỗ trống ngay trước tiệm hoa, hên quá, nàng thầm nghĩ, chiều thứ sáu tiệm thường đông người, vậy mà mình có đựơc chỗ đậu tốt quá. Rồi hí hửng bước vào trong, niềm vui của mỗi chiều thứ sáu đi làm về là ra tiệm hoa, đứng nhìn ngắm, chọn lựa xong mang về cắm để ngay bàn giữa nhà. Cuối tuần luôn vui vì bắt đầu từ một việc đơn giản như vậy.
Bên trong tiệm, hôm nay cũng thưa thớt người mua hơn mọi lần. Nàng tiến đến quầy nơi có những cành tulip và hoa đâụ xinh tươi. Đang mân mê chọn lựa thì bên cạnh một người đàn ông cũng đang đăm chiêu nhìn quầy hoa, ông ta cầm một bó ngắm nghía, nghĩ sao lại bỏ xuống, chọn bó khác… cứ vậy mà ông ta loay hoay mãi và gương mặt ra chiều suy tư lắm.
Đọc tiếp »
Trần Huy Sao
những ngày giáp Tết ngậm ngùi
hương bay dị ứng lạ mùi cỏ hoa
ở hoài bên xứ người ta
lâu ngày hội nhập mới ra nỗi này
hồi xưa đâu có như vầy
hồi nay quá tệ không đầy nhúm xưa
Đọc tiếp »
Khaly Chàm
kính tặng SG hòn ngọc viễn đông
về phố làm cây khỏa thân
hỏi xem chân lý đã trần trụi chưa?
sài gòn vuốt mặt dạ thưa:
tuổi tên thất lạc đã vừa bốn mươi
Đọc tiếp »
Lữ Quỳnh
1.
Văn học miền Nam, 1954-1975, có thể chia làm hai giai đoạn: Từ 1954 đến 1962 và từ 1963 đến 1975.
Không kể Tự lực Văn đoàn tiêu biểu cho giai đoạn trước đó, thì nhóm Sáng Tạo gồm phần lớn tác giả di cư từ miền Bắc vào Nam, sau hiệp định Genève năm 1954, là đáng kể. Tạp chí Sáng Tạo với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Thái Tuấn… Tạp chí này đã có công đem lại cho sinh hoạt văn học miền Nam nhiều mới mẻ. Một Mai Thảo với những tùy bút tuyệt vời, luôn muốn làm mới ngôn ngữ. Một Thanh Tâm Tuyền mở đầu khuynh hướng thơ tự do. Một Vũ Khắc Khoan với nhiều vở kịch lịch sử pha lẫn triết học. Các họa sĩ Duy Thanh, Thái Tuấn, Ngọc Dũng đem lại những nét mới… cho hội họa.
Đọc tiếp »
Phan Ni Tấn
làm đôi guốc mộc quai hường
xin cùng tha thướt xuống đường với em
ngày mưa guốc lấm bùn lem
cũng vui vì chỗ gót sen em về
làm vi vút ngọn gió quê
hay vi vu thổi cây tre đầu đình
bay vờn trong chớm bình minh
hay trong chiều cũng tài tình như hương
Đọc tiếp »
Hòa Bình
Nhạc và lời: Hòa Bình; Tiếng hát: Diệu Hiền
Bản ký âm PDF
Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3.
Trần Mộng Lâm
Đìa là chỗ trũng ngoài đồng có đắp bờ để giữ nước và cá.
Tục ngữ có câu:
Nay tát đầm, Mai tát đìa, ngày kia giỗ hậu.
Truyền thống của người dân vùng sông nước Cửu Long là gần đến Tết, họ tát đìa, dỡ chà, bắt cá tôm, kiếm tiền xài Tết, và có cá để dành tiếp khách.
Thời gian tát đìa thích hợp nhất là từ tháng Chạp đến tháng Hai Âm Lịch. Người nông dân tính toán rất sít sao: Dứt lúa tới đìa, dứt đìa tới ruông, đủ ăn quanh năm.
Khi tôi bị đi học tập tại vùng Đồng Tháp Mười, năm 1976-1977, chỉ cần ra đồng ruộng là nhìn thấy từng đàn cá bơi lội, cá lóc với bầy con ròng ròng, cá rô đồng, những con rùa, và các con rắn xà nẹo trên các bụi cây trên bờ, khi bơi hay chống thuyền trên các sông, rạch. Chỉ cần bước chân xuống ruộng là bắt được cá.
Đọc tiếp »
Phan Minh Châu
Cứ thậm thụt rồi ngày qua tháng tới
Vườn nhà ai hương sắc đã đâm chồi
Cứ thậm thụt rồi ngày qua tết đến
Ta lần dò cơm áo đến hụt hơi.
Chưa đến tết mà lòng ai đã tết?
Chợt chờ mong chợt đợi một ngày …xe!
Mang một chút hơi thơm về đất mẹ
Mang tấm lòng trang trải những nhiêu khê.
Đọc tiếp »
Trần Vấn Lệ
Cơn mưa trên phía Bắc gió tạt về hồi khuya, con chim nhại ngủ mê thức dậy kêu tí tách…Cơn mưa trên phía Bắc thì thào trong tiếng chim, vượt không xa bóng đêm. Trăng thế nào trên núi?
Đó là một câu hỏi. Chẳng biết hỏi thăm ai, thôi thì hỏi mưa bay nghiêng nghiêng qua ánh điện. Mưa giát ngọc vương miện lóng lánh từng lá cây. Chợt nhớ những ngón tay em vuốt suôn tóc ướt…
Nhớ là không thấy được mái tóc của mình yêu. Nhưng tưởng tượng thì nhiều…vì bốn mươi năm không ít! Việt Nam mình tối mịt, bốn mươi năm gió mưa…Hai cây đào ngày xưa, Tết này còn rụng tiếp!
Đọc tiếp »
Đỗ Quý Toàn

Nguyễn Đức Quỳnh (1909-1974)
Ảnh: Trần Cao Lĩnh
Nói về văn nghệ miền Nam từ 1954 đến 1975, thời Việt Nam Cộng Hòa, các nhà nghiên cứu ít nói đến Nguyễn Đức Quỳnh. Nhà văn chỉ in một cuốn sách, không phải thơ cũng không là tiểu thuyết, ký một bút hiệu mới mà ông chỉ dùng một lần. Tên Nguyễn Đức Quỳnh xuất hiện trên những tác phẩm in trước năm 1945 ở Hà Nội. Từ khi vào miền Nam năm 1952 ông đã dùng nhiều bút hiệu khi viết báo, như Hà Việt Phương, Vương Thương Thương, Hoài Nam Hoài, Ngô Đồng Thanh, Minh Ái Thành, và rất nhiều tên khác. Điều này phản ảnh tư tưởng, cách sống, nhân cách và thái độ đối với cuộc đời của ông. Như nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhận xét, “Ông viết nhiều, lấy bao nhiêu là bút hiệu, và không cần người đọc biết những bài đó của ông.” Bởi vì ông “…không có cái xa xỉ viết lách để tạo một thứ danh vọng hư ảo! Không hề muốn xây dựng hào quang cho một bút hiệu.” Cuốn sách duy nhất được xuất bản tại miền Nam trước năm 1975 là Ai Có Qua Cầu (Sài Gòn, Quan Điểm, 1957), ông ký tên Hoài Đồng Vọng. Người ta có thể phân tích ý nghĩa của các bút hiệu ông dùng, tất cả đều chứa đựng các ước vọng.
Đọc tiếp »
Viên Dung
trời sắp Tết nơi không thấy Tết
nhưng lòng xưa động
tiếng chày giã bánh phồng
động tới hồi “mới giải phóng”
hồi những mọn hèn lóng ngóng xuân
đêm qua, có giấc mơ hồi thất trận
vía thấy mình vẫn bị tập trung
làm không công rừng xa ngất
tôi kịch liệt chối : không. Bật dậy.
Đọc tiếp »
Sử Mặc
ngựa. rồi cũng chạy te tưa
phi lên núi khựng
xuống đìa thong manh
bịt hai mắt trộ lũy thành
dựng đứng dựng đứng
hùng anh. đột
quỳ
cuối năm ngựa thở
phì phì
đầu năm sút móng
thôi thì
đứng
yên
3 feb.2015
Đọc tiếp »
Phan Trang Hy
Đang ngồi xem ti vi, điện thoại báo có tin nhắn. Bình nghĩ thầm: Chắc tin khuyến mãi, quảng cáo. Nghĩ thế, nhưng hắn vẫn mở xem. Tin nhắn của thằng Anh, lớp trưởng của hắn hồi còn học trung học đệ nhất cấp. Là thông tin về thời gian, địa điểm họp số bạn ở Đà Nẵng chuẩn bị về tham dự 50 năm ngày thành lập trường. Đọc tin nhắn, hắn nhớ lại tuổi học trò, nhớ lại thời nhỏ trước khi vào học Phan Châu Trinh.
Rồi, ngày họp mặt cũng đến. Chỉ có 14 đứa, cả gái, cả trai ở Đà Nẵng có dịp gặp nhau. Biết bao kỷ niệm của tuổi học trò, của thời ngây ngô, thơ dại hiện về trong buổi gặp mặt.
Đọc tiếp »
Lữ Quỳnh
cám ơn giọt nắng vô thường
lung linh ở cuối con đường khổ đau
(Phạm Cao Hoàng)
rằm này làm nhớ trăng xưa
tuổi thơ in bóng hồn thơ sóng vàng
đời là tập vở đầu trang
ngã nghiêng con chữ từng vần a b
bàn tay lấm mực hoen lề
bước nai theo mẹ dẫn đi trường làng
Đọc tiếp »
Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689—740)
Yên Nhiên chuyển ngữ từ nguyên tác: Trừ dạ hữu hoài | Xuân hiểu
Thời gian điểm nhịp suốt canh thâu
Chuyển tiết bốn mùa tiếp nối nhau
Đèn trướng cạn dầu đốm lửa tắt
Lò trầm hương lụn nhúm tro tàn
Hương xuân ngan ngát ươm vào gối
Chén rượu quỳnh tương nguội lạnh mau
Năm cũ sắp đi ai nỡ ngủ
Hồn mộng chưa về sao thấy nhau
Đọc tiếp »
Hà Sĩ Phu
Nhân vụ Charlie Hebdo nghĩ về vũ khí phê phán
1. Về vụ khủng bố tòa báo Châm biếm Charlie Hebdo
Sự cọ xát, phân định, và đấu tranh giữa các yếu tố đúng-sai, tốt-xấu, thiện-ác, giữa nhân tính và thú tính, lạc hậu với văn minh…của thế giới con người đã làm phát sinh một thứ “vũ khí” đặc biệt là “vũ khí phê phán”, mà mức độ cực đoan tồi tệ nhất là “phê phán bằng vũ khí”. Phê phán là đấu tranh với nhau dưới mọi hình thức, là hoạt động thiêng liêng để tiến hóa chỉ loài người mới có, thiếu nó xã hội sẽ rơi vào tình trạng hỗn mang của loài vật. Phê phán xuất hiện và tồn tại cùng với loài người và cũng dần dần văn minh hóa cùng với loài người. Nhưng một hoạt động quan trọng và bao trùm như thế tất nhiên không bao giờ đơn giản.
Đọc tiếp »
Phạm Đức Nhì
Mới đây
trong chuyến về Hải Phòng
thăm quê cha đất tổ
tình cờ, nơi quán nước bên đường
tôi gặp lại một “người quen cũ”
nhận ra anh
nhờ khuôn mặt rỗ
và vết sẹo khá sâu
hình lưỡi liềm trên cổ
Đọc tiếp »
Huỳnh Minh Lệ
cho tôi gởi
bếp lửa đêm ba mươi
tiếng tí tách của củi than cháy đỏ
tiếng ùn ục
của nồi bánh tét đang sôi
cho tôi gởi
sàng củ kiệu đang phơi trước ngõ
những ngày cuối năm trời đất âm u
tết này dưa kiệu không dòn
Đọc tiếp »
Nguyễn Lương Vỵ

Nguyễn Thị Khánh Minh
dinhcuong
Năm 12 tuổi, cô bé Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) đã viết xuống 4 câu thơ hồn nhiên, trong veo, kỳ vĩ, lạ lùng:
“Chú chuồn kim nhỏ
Khâu vào trong gió
Một nghìn giấc mơ
Em về qua đó…”
Năm 14 tuổi, cũng giọng thơ hồn nhiên, trong veo, kỳ vĩ, lạ lùng ấy, có thêm một chút thảng thốt trong ánh mắt rất nhân hậu, cô bé NTKM viết tiếp:
“Em giơ tay hứng giọt mưa mùa đông
Nhịp nước nào rơi trong tiếng lạnh lùng
Tay em bé nước tràn không đủ nắm
Nên buồn buồn nước vỡ bâng khuâng…”
Đọc tiếp »
Huy Uyên
Em về che bóng Hạnh-Hoa
giáo đường im, nắng xế tà bước ai
áo em tím kín cả trời
gót sương phai nhạt cõi người xa xăm
Lạy Chúa cha, lạy thánh thần
hình như mẹ (Maria) hai mắt buồn chiều nay
trên lầu chuông đổ lắt lay
để tôi kéo lại tháng ngày cổ xưa
hỏi em còn có ngày về
mai môi mắt của một người nhạt phai .
Đọc tiếp »
Tôn Nữ Thu Dung
Góc phố
đêm dài tự hỏi
Mùa yêu
lạc mất phương nào
Đường mây ai còn rong ruổi
Chim bằng cánh mỏi… nghiêng chao.
Đọc tiếp »
Tưởng Năng Tiến
Education is the most powerful weapon which you can use to change the world. (Nelson Mandela)
Người Việt rất lạc quan và hãnh diện về tính hiếu học của dân tộc mình, trừ nhà văn Phạm Thị Hoài:
“Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.”
Cái kiểu nói (“nhân đây”) của bà nhà văn nghe “mích lòng” thấy rõ nhưng e là hoàn toàn không trật, với mọi người dân Việt – trừ ông Út Em (*):
– Đời mình thì chịu thua rồi nhưng con cháu thì phải lo cho tụi nó học được cái chữ, con số để mai mốt lỡ mượn tiền ai rồi lúc trả còn biết đường ghi vô sổ là mình đã trả ngày nào, hay đã trả bao nhiêu, để không họ cứ đòi hoài cái chết mẹ … – anh Tư thấy ý tui nói đúng không?
Đọc tiếp »
Từ Sâm
định hướng ngọn lửa
kiên trì thời tiết
bình ồn nhiệt độ dù lạnh hay nóng
vẫn phải là mùa xuân ???
hoa đào chết lụi vì thiếu ăn
có màu giấy đỏ lòm thay thế …
cái bụng lép kẹp đang… no
khống chỉ
trên văn bản là thế
Đọc tiếp »
Đinh Cường

Chiều Harvard Square
sơn dầu trên giấy
dinhcuong
Những chiếc ghế sắt chúng ta ngồi
ở Harvard Square phủ tuyết dày 24 inches
Nguyễn Trọng Khôi ra sao
làm sao cào tuyết. và Chân Phương ở căn nhà
ngoài biển. bão tuyết đi qua và sóng lớn
Trần Doãn Nho có thức với Dặm Trường
Đọc tiếp »
Đặng Châu Long
Văn chương thực sự chỉ xuất hiện khi con người có cảm xúc mãnh liệt trước một con người hoặc một hiện tượng nào đó trong cuộc sống (Hoài Thanh)
Trời muốn trở rét, nói xong và nghe tiếng mình nói, tôi chợt nhớ ra mình đã vô tình lặp lại câu đầu chương trong quyển tiểu thuyết luận đề Đôi Bạn của Nhất Linh. Đã hơn 50 năm tôi vẫn vương vấn câu ấy trong đầu như một lần tìm kiếm cái rực rỡ của văn chương nhóm Tự Lực Văn Đoàn cùng vị thày dạy Việt văn lớp tôi.
Trên đường đi đến Quán Văn sáng nay, tôi cảm nhận cái ấm áp giữa ngày đầu năm trời trở lạnh choàng sương và những đóm lửa nồng nàn như đang nhảy múa trong tôi theo con đường huyên náo. Những nhỏ nhoi lửa tuổi thơ, những tia mắt nồng ấm sẻ chia trong đời đã làm tôi dịu lại cái lạnh ngày sắp trở mùa. Con đường Nguyễn văn Công cong qua cong lại như cái tên, bí ẩn giấu mình trong cái mê cung ngã năm chuồng chó, thách thức tôi giải mã cho chuyến hành trình đầu tiên tìm về . Con đường Nguyễn Kiệm cắc cớ một chiều, cùng đổ ngược nhau về điểm vòng xoay này, dễ làm rối những kẻ nhàn du phải giải mã cho từng chuyến đi và về.
Đọc tiếp »
Lâm Hảo Dũng
chuyển dịch không ngừng nghỉ
dịch chuyển bao giờ ngưng ?
gió khi nào say rượu
dật dưỡng kéo mây buồn
trăng thất tình quên ngủ
nguyệt thực xuống trần gian
mưa cuối mùa hội tụ
reo hát giữa kinh hoàng
nắng hoả sơn nhiệt đới
rò rĩ chữ điêu tàn
Đọc tiếp »
Trần Ngọc Hưởng
Cớ gì hẹn đến kiếp sau,
Sao mình chẳng nhận yêu nhau kiếp này!
Hai người cách một gang tay,
Bắc cầu dải yếm bao ngày hoài mong
Cớ gì đố lá diêu bông,
Xui anh vào cuộc sắc không kiếm tìm.
Mịt mờ điệu lý tầm duyên,
Tỏ mờ hư ảnh mấy miền nổi trôi.
Đọc tiếp »
Song Thao

Thi sĩ Tuân Nguyễn (1933-1983)
Mỗi khi Valentine tới, tôi thường lặng lẽ cười khi nhìn thấy những trái tim mang đủ sắc đỏ lung linh khắp nơi. Tình yêu lúc nào cũng có bộ mặt đỏ ké vậy sao? Cười thầm nhưng tôi lại muốn viết chút gì đó vào ngày lễ mà tất cả bàn dân thiên hạ đua nhau yêu. Năm nay cũng vậy, viết tí chút về chuyện tình cho vui, tôi nghĩ vậy và chọn vài chuyện tình để viết chơi. Chọn được một vài chuyện khá hấp dẫn, tôi định viết. Nhưng tình cờ tôi vào đọc trên internet một bài viết của nhà văn Tưởng Năng Tiến viết vào năm 2010 về một người mang tên Tuân Nguyễn, tôi bỗng thấy những chuyện tình tôi đã chọn chẳng ra sao cả. Chuyện tình của Tuân Nguyễn mới…ra sao!
Đọc tiếp »
Lữ Quỳnh
và như vậy còn ghi được 2015
dưới góc những bức tranh sẽ vẽ
(Đinh Cường)
sao môt ngày qua nhanh quá
mới bình minh đã hoàng hôn
chưa kịp mở lời yêu dấu
trái tim kia vội chập chờn
sao một tuần qua nhanh quá
thứ hai thôi chủ nhật rồi
chưa kịp hẹn mà đã lỡ
ngập ngừng giọt đọng trên môi
Đọc tiếp »
Trần Văn Lương | Ngô Đình Chương | Yên Nhiên
Trẻ làm biếng học, chỉ đi rong,
Nên đến cuối đời, óc rỗng không.
Chữ Hán ăn đong “tam” đến “nhất”, (*)
Tiếng Tây đánh vật “úy” cùng “nông”.
Lưng còng nhớ nước càng đau ruột,
Mắt ướt nhìn quê lại nát lòng.
Cách bến xa dòng, buồn lóng ngóng,
Cỏn con giấc mộng kiếp nào xong!
Trần Văn Lương
Cali, 2/2015
(*) Dựa trên câu “Tạ Tam Lang bất thức tứ tự”, có nghĩa là anh Ba họ Tạ không biết đến chữ (số) bốn. Lý do là anh ta thứ ba nên vốn liếng học chỉ có 3 chữ từ số một đến số ba, vừa đủ để viết tên mình là hết.
Đọc tiếp »
Phan Tấn Hải
Tôi có nhiều kỷ niệm với văn học từ trung học, thời của những lớp đệ thất (lớp 6) trở lên. Văn học với tôi là hình ảnh một cô giáo đứng trước lớp, tay cầm một cuốn truyện, có lúc một cuốn thơ, và có lúc một sách giáo khoa… Thời đó Việt văn chia ra làm đôi, gọi là cổ văn và tân văn. Và giờ văn nào cũng chắp cánh cho tôi bay bổng, nơi một thế giới được dựng lên từ những lượn sóng muôn trùng của chữ.
Cô giáo đọc dịu dàng, các âm vang được cô nói lên bay lơ lửng trước mặt bọn học trò, làm chúng tôi như bị hớp hồn, và rồi các chữ đó biến mất như những chiếc lá mùa thu trong trí nhớ về ngày đầu tới trường của một cậu bé.
Có những lúc giọng cô giáo đọc trầm bổng, đọc kinh ngạc, đọc thổn thức khi tới đoạn Ngọc giựt vạt áo chú tiểu Lan nơi sân Chùa Long Giáng và sững sờ thấy lộ ra một bầu ngực.
Đọc tiếp »
Trần Văn Sơn
tặng hai em tôi Khôi Liên

Màu tranh như màu cà phê
dinhcuong
Về, ngồi quán vườn cau cùng bạn cũ
Sáng cà phê chiều chén rượu chung trà
Chung trà nóng ấm lòng người viễn xứ
Chén rượu đầy uống cạn nghĩa tình ta
Cà phê đắng ngậm ngùi thân lưu lạc
Thèm hương cau thêm vị ngọt quê nhà
Quán đông khách sao tim ta đau nhói
Thương vườn cau nếp đất mịt mù xa
Đọc tiếp »
Vương Ngọc Minh
sống
chết- bức bách- một đỗi
buông ra
thấy em khoanh tròn
hệt thai nhi
nằm- ba tháng tuổi- mà
chuyện nghĩ “về
ở..”
nơi tôi
Đọc tiếp »