Hồ Đình Nghiêm


Trịnh Y Thư – Ảnh tự chụp,
Egyptian Museum, San José, CA, 2019

Tôi gửi bài, góp mặt với tạp chí Văn Học khá muộn, vào năm 1986. Vẫn đón nhận những lá thư ngắn gửi qua bưu điện của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, khích lệ và thân tình chia sẻ những kinh nghiệm sáng tác cho lớp đi sau (như tôi). Tôi nói khá muộn vì trước đó tôi thường gửi truyện ngắn tới Đất Mới, Văn, Làng Văn… Tôi yêu thích Văn Học hơn các tạp chí khác, cộng tác khá đều đặn, tới tháng 12 năm 1990 vẫn còn “chung tình”. Bấy giờ chủ bút đã là Trịnh Y Thư.

Anh là ai? Ở xa tôi vẫn giữ một “ảo ảnh”. Không những chậm trễ khi đến với tạp chí Văn Học, tôi còn mù mờ thông tin, chậm lụt một vài thứ khác, vẫn thường lỡ biết bao chuyến xe. Thời gian gần đây, trong “phế tích” của trí nhớ bỗng nổi cộm tên tuổi cũ: Trịnh Y Thư. Người cao thủ biết môn công phu phân thân: Anh là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, vẫn thường chơi guitar nhạc cổ điển và cũng đang tự mình đứng ra coi sóc nhà Văn Học Press tại California, Hoa Kỳ. Như thế, dẫu cho chậm bước, tôi tự nhủ, nếu không tìm cách lân la đến bên anh quả là một thiếu sót lớn. Có thể bạn sẽ trách tôi dùng “ảo ảnh” với “phế tích” trong câu trên là không chỉnh. Xin thưa: Tôi đã vay mượn chữ, “Phế Tích Của Ảo Ảnh” là nhan tập thơ của người tài hoa Trịnh Y Thư. Bạn có nhín chút thời gian để nhàn du cùng chúng tôi không? Xin vui lòng.
Đọc tiếp »

Ngáo đá

Posted: 09/05/2019 in Lê Phước Dạ Đăng, Thơ

Lê Phước Dạ Đăng

như lạc vào thế giới tâm thần
cái nóng cực kỳ làm cho con người mê mê muội muội
đêm kéo thêm bằng những cơn mất ngủ
phố xá dài ra chen bàn ghế phụ vào việc chữa lửa từ quán nhậu hò dzô.  Đọc tiếp »

Lê Lạc Giao

Thơ, chỉ một nỗi niềm
Dù cho bao cõi vẫn đời riêng
Như trong bóng xế, chiều nghiêng nắng
mùa cũ về, quay quắt nhớ thương…

Tôi thích thơ từ thuở bé. Kiều, Chinh phụ Ngâm, Cung oán ngâm khúc là những bài thơ dài đầu tiên mà tôi tập đọc từ lúc bắt đầu biết chữ. Đến khi trưởng thành, tôi khám phá ra âm điệu từng bài thơ theo thời gian đã vun đắp, nuôi nấng tình yêu thương trong tôi thêm bao la to lớn, và cũng chính nó biến thành thứ nợ tinh thần trong cuộc đời mình. Yêu thơ mà xem như nợ quả là một quan niệm khá tiêu cực! Nhưng tính gắn bó của thơ nôm na không phải là một thứ nợ hay sao? Trong gia đình tôi nhiều người biết làm thơ và tôi có một số bạn bè là thi sĩ. Tôi xin nói thêm chữ thi sĩ dùng ở đây chỉ người làm thơ mà không hàm ý làm thơ hay dở, nổi tiếng hay chỉ là kẻ tấp tểnh sự nghiệp văn chương. Chị em, các cháu tôi đều biết làm thơ từ thuở còn học tiểu học và cho đến hôm nay ai nấy đều có những bài thơ hay tập thơ đắc ý của riêng mình. Tôi cũng không loại trừ, nhưng tôi làm thơ rất ít và các bài thơ của tôi giá trị không kém thuốc chữa bệnh. Mỗi khi có chuyện đau buồn tôi lấy thơ ra đọc sau đó dường như cõi lòng nhẹ bớt nỗi đau thương, do đó thơ gắn bó đời tôi trên cả hai mặt vật lý và tinh thần. Tôi nói hơi nhiều về thơ cũng chỉ để giới thiệu với các bạn về một người bạn, người anh thi sĩ của tôi mà cõi thơ của anh ấy đã chi phối không ít nỗi niềm tình cảm riêng tôi. Đấy là cõi thơ thi sĩ Du Tử Lê qua tập thơ “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” mà tôi mới được anh tặng.
Đọc tiếp »

Tình khúc tháng Năm

Posted: 08/05/2019 in Song Anh, Thơ

Song Anh

1.
thằng xưng danh nhà báo
kẻ vỗ ngực giáo sư tiến sĩ
đứa khoe dân CEO
rặt một phường giá áo túi cơm
cúi đầu chịu tang trước thằng man rợ

2.
sau tháng tư ồn ào
tiếng chó tru. mèo gào
bò rống
tháng năm ngoan hiền
với tiếng gà gáy
cầm canh mỗi ngày
Đọc tiếp »

Nguyễn Vĩnh Long

Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn trễ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với bà xã và mấy đứa cháu ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm. Bà xã thì trưa nay đã theo mấy đứa cháu gái đi “làm đẹp”: làm tóc gội đầu, móng tay và cả massage. Nghe nói những loại dịch vụ này gần đây rất phổ biến và giá cả rất “mềm”, các bà tha hồ mà chăm sóc mặt mày, tóc da. Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cả chương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước. Bến nước Ninh Kiều còn có một đội ngũ đò máy cho khách du lịch thăm viếng chợ nổi Cái Răng, những khu sinh thái nhà vườn và các cù lao, cồn vùng lân cận… Trong tiếng động của nhịp sống chung quanh tôi thấy thật gần gũi, quen thuộc nhưng cũng có chút gì đó ngập ngừng, bỡ ngỡ. Trên đường ồn ào xe máy, dưới sông rộn ràng ghe đò tạo khu công viên bến Ninh Kiều mang hình ảnh đặc trưng của một thành phố đô thị miền Tây.
Đọc tiếp »

Hồ Chí Bửu

Ngày về

Ngày về – ta vẫn hoàn tay trắng
Bến cũ đò xưa lỡ hẹn rồi
Cánh hoa ngày ấy em trao tặng
Nay đã héo tàn tan tác rơi

Ngày về – ta chỉ bàn tay trắng
Lữ khách buồn tênh một kiếp người
Nước biển muôn đời luôn vị mặn
Giang hồ ta chỉ một mình thôi..
Đọc tiếp »

Trịnh Y Thư


Nhạc sĩ/Nhà soạn nhạc Vân-Ánh Vanessa Võ

1.
Hãy tưởng tượng một buổi tối trong một khán trường trang trọng vào bậc nhất của thành phố, bạn và gần nghìn khán thính giả khác nín thở trong im lặng tuyệt đối theo dõi những vũ điệu tuyệt luân của những vũ công thuần thục, biểu diễn những chuyển động khi vũ bão khi dịu dàng, khi tiết chế khi man dại, như bay trong chân không, như thể trọng lực của quả đất chẳng hề có sức hút nào đáng kể đối với họ, và cảm xúc trong tim bạn dâng trào đến độ ngẩn ngơ lúc bạn nhận ra những chuyển động của những vũ công ballet dày công luyện tập ấy ăn nhịp sát sao với những nốt nhạc một bài ca trù thơ Hồ Xuân Hương! Và rất nhiều âm thanh, giai điệu khác, với phong cách sáng tạo hiện đại, vang lên từ các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, đàn tranh, đàn bầu… Một buổi diễn có một không hai, tôi dám khẳng định như thế. Sự ngạc nhiên lúc ban đầu mau chóng nhường chỗ cho niềm thú vị hiếm thấy trong một chương trình ca vũ, bởi đó là sự phối ngẫu tuyệt hảo giữa nghệ thuật múa và nghệ thuật âm thanh.
Đọc tiếp »

Tình mây bay | Thăng hoa

Posted: 07/05/2019 in Locphuc., Thơ

Locphuc.

Tình mây bay

Những cô tiên đậu trên bờ mắt
Bà ru cháu lắng thời gian bay
Tiếng chuông rè như vừa ngái ngủ
Tuổi lên năm bé còn thơ ngây

Bao đêm hè bé đi bắt đóm
Nhìn trời cao lấp lánh sao sa
Có vì sao sà xuống bờ dậu
Bé nghĩ tiên sắp đến chơi nhà
Đọc tiếp »

Hậu tháng tư

Posted: 07/05/2019 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn

một đoạn

mưa lả. vào tháng 5. còn rét
nắng. ửng chút xuân. rồi phụt tắt
ngửi mùi thuốc súng ở bên trời
hôm qua. hôm nay còn giết chóc

[ở 4 góc đời lũ người điên
thèm sát nhân tới mức độ ghiền]
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Tưởng rằng: Đích thị giai nhân. Có ngờ đâu nàng chỉ là: Thi sĩ.

Khi bạn thốt ra câu đó, bạn cho tôi hay một chuyện: Người đẹp khác với người làm thơ? Bán tín bán nghi, tuy nhiên tôi vụng nghĩ tới luật bù trừ, về thứ bất toàn mà thượng đế trao gửi khi nhào nặn ra chúng sinh. Nhan sắc tuyệt vời lại thêm làm thơ hay tuyệt trù, xưa nay tuyệt không hiện hữu. Tuyệt mệnh! Vấn nạn ấy có tuyệt đối chăng?

Tôi không có cảm tình với chữ Nàng, Chàng. Nàng vọng cổ mà chàng cải lương, nôm na là váng vất chút sến. Nhưng trường hợp này tôi nghe thuận tai, bởi “nàng” không mấy đẹp và thơ “nàng” làm cũng thường bày cảnh trái ngang duyên phận, có ông phổ thành nhạc điệu boléro mùi như sầu riêng rụng xuống sau vườn. Vườn cắm dùi trong đêm buồn tỉnh lẻ.
Đọc tiếp »

Thy An

Cái mớ ký ức khó chịu

cái mớ ký ức khó chịu sao không nằm yên
mặc dù đã bỏ trong lon sắt quăng vào đống rác
nhưng cứ ngọ nguậy kêu leng keng
nằm bên cạnh là những thần tượng lỗi thời
theo tiếng loa kèn cũng nhúc nhích như sâu bọ
phát ra những âm thanh ô nhiễm và vô ích cho đời sống
người đàn bà gánh hoa, người đàn ông chở gạo
cố đi trên quên lãng
những ngứa ngáy của tháng tư
quá khứ hiện tại xung đột nhau
làm con người chẳng dám nghĩ đến tương lai
Đọc tiếp »

Đỗ Bình

Tử Sĩ

Từ độ quê nghèo yên khói lửa
Mẹ ngồi khắc khoải đếm xương khô.
Núi sông phảng phất mùi thây rữa,
Vất vưởng hồn oan chẳng nấm mồ!

Đỗ Bình

Mưa Paris chiều nay làm tôi gợi nhớ về những chiều mưa trên quê hương, những cơn mưa chợt nắng Sài Gòn, những ngày mưa lê thê Phố Huế, mưa lạnh trên Cao Nguyên và cơn mưa phùn Hà Nội của thuở xa xưa lúc còn bé. Đang thả hồn bay bổng trong những kỷ niệm đẹp, hồn tôi bỗng se lại vì chợt nhớ cơn mưa chiều năm ấy. Những hình ảnh cũ hiện ra như một khúc phim của một quãng đời, tưởng đã nhạt phai theo thời gian, nhưng nó vẫn ẩn trong tiềm thức.

Chiều năm ấy, màu hoàng hôn đầy mây xám, trời đổ những cơn mưa tầm tã làm giăng mờ con đường rừng dẫn đến trại tù. Mưa trút nước trắng, xóa lớp hàng kẽm gai rào quanh trại, như muốn xóa bỏ những móc nhọn đang vây hãm những người bị mất tự do. Trời nhá nhem tối, tiếng mưa lẫn tiếng gió hú tạo thành một âm thanh rờn rợn tê tái, khiến cảnh sắc trại tù thêm thê lương!
Đọc tiếp »

Bùi Chí Vinh

Vua quan chết sống không cần biết
Dân chết sống mới cần
Từ xưa tới nay dân luôn là gốc
Bật gốc rồi coi như mất sạch dân

Bởi vậy bọn vua quan có chết cũng chẳng đáng quan tâm
Chúng sống như hôn quân, chết sẽ như giòi bọ
Còn dân thì bụng rỗng quanh năm
Nên lúc chết sẽ nhẹ như hơi gió
Đọc tiếp »

Phan Ni Tấn

– Nào! Ta chào sân cái đi.

– Mời anh

– Mời… Vào ba, đúng không?

– Dạ, đúng

– Ly thứ hai. Cụng. (Khà…) Dám hỏi anh bạn đây thứ mấy?

– Dạ, tôi thứ sáu

– Chào anh Sáu. Được rồi. Mình cạn cái nữa rồi vô đề nghe.

***

Tôi họ Hồ tên Mạnh Được. Hồ Mạnh Được, mới nghe tên ai cũng méo mó nghĩ chắc tôi “được” cái gì, nhưng thật ra từ ngày Cha sanh Mạ đẻ tới chừ Mạnh Được tôi có được cái chi mô.
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc


Thiếu nữ quàng khăn
Đinh Trường Chinh

Người qua đời tôi

qua đời tôi những sớm mai
người mang đi tiếng thở dài từng đêm
và chôn bao nỗi muộn phiền
đưa tôi lạc bước vào miền cỏ hoa

qua đời tôi những chiều tà
người đem theo những lạc loài đời tôi
ơn nhau thơ dại tim người
tôi ngồi lặng đắm tình ngời mắt sâu
Đọc tiếp »

Phan Việt Thuỷ


Tượng Lý Thường Kiệt

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: ngôn ngữ Việt Nam đã chuyển tải không ngừng dòng sinh mệnh văn hoá dân tộc, đã trở thành cơm nuôi dưỡng dân tộc tính Việt Nam, đã trở thành máu nuôi dưỡng nhịp đập của mọi trái tim người dân Việt trong những vui buồn, hào khí tình tự dân tộc. Những nổi khổ cực đắng cay “máu chảy ruột mềm” mà dân tộc Việt Nam đã phải chung vai đấu cật, cũng đã nhờ những mệnh lệnh ngôn ngữ:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam bao giờ cũng tìm cách đứng dậy, vươn mình đi tới, xong pha vào hiểm nguy để bảo vệ từng tấc đất, quê cha đất tổ, bảo vệ sự sống còn của dân tộc cũng đã nhờ những mệnh lệnh ngôn ngữ. Một minh chứng là bài “Nam quốc sơn hà”:

Nam quốc son hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư

Đọc tiếp »

Nhánh rong phiêu

Posted: 03/05/2019 in Thơ, Trần Huy Sao

Trần Huy Sao
…hỏi em còn nhớ cái hồi
cái nồi chồm hổm lên ngồi cái ly…

cái cốc là cái chi chi
cái ly là cái lâu ni quen xài
em là cô giáo thuộc bài
giải tôi nghe cái hình hài cốc ly
tôi thì lẩn lộn sân si
tưởng là cái cốc là khi…cốc đầu!
ai ngờ đâu có dè đâu
thuở ly với cốc bắt đầu cụng nhau
bày hàng thương hải nương dâu
cái ly chạy nạn u đầu
nhường cho cái cốc ngồi đau cái nồi  Đọc tiếp »

Phạm Duy

Nhạc và lời: Phạm Duy; Tiếng hát: Diễm Chi
ban_ky_am

Nguồn: Phong trào Du ca Việt Nam

Trần Thế Phong

Sau vụ nổ kho đạn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Long Khánh, một số tù cải tạo chuyển đến Bù Gia Mập, tỉnh Phước Long để tăng gia sản xuất. Qua ba tháng ổn định chỗ ăn, chỗ ở là bắt đầu đi phát, đốt, dọn rẫy để trồng mì, bắp và lúa. Khối của tôi được phân công đi lấy cây mì ở những vùng kinh tế mới khu Bù Gia Mập.

Buổi sáng bảy giờ, tập họp trước sân của khối để chuẩn bị lên đường. Ông quản giáo Trị phụ trách dẫn đi, có bốn vệ binh đi kèm canh giữ. Ông quản giáo Trị dõng dạt tuyên bố:

– Các anh chuẩn bị lên đô-đờ-ghe để hành quân lấy cây mì.

Anh em tù cải tạo đều ngơ ngác không biết đô-đờ-ghe là cái gì. Nguyễn Ngọc Nhựt đứng sau tôi lầm bầm: Ở đây có sông, có suối đâu mà đi ghe. Bác sĩ Phấn đứng đầu hàng hỏi quản giáo Trị:

– Thưa quản giáo: Ở đây có ghe đâu mà chúng tôi đi?
Đọc tiếp »

Lê Quang Thông

Tôi về với các em cuối tháng Mười Một:
những ngày mưa,
không thấy được núi Truồi.
Ngàn tâm sự xui lòng tôi sướt mướt,
nên ngại mình không tạo nổi niềm vui.

Tôi vẫn băn khoăn,
những mai theo xe về dạy sớm.
Có phải nơi đây, nơi mình trở về?
Nơi dừng chân một đời bão nổi?
Ôi! Những hy vọng
xanh như lá cây,
Đã bay theo một thời
ngược xuôi tóc rối.
Đọc tiếp »

Hoàng Xuân Sơn


Thiếu nữ và mùa Xuân
Tôn Nữ Tâm Hảo

rồi mùa nào cũng có chút vương vương
vương vướng châu thân khắp phố phuờng
hạt bụi phương xa nằm trong mắt trên má
vài sợi tơ thiều rung theo mây khói buông

em dị ứng tôi không tuổi nặng tam tòa
mùi tháng năm rền kỷ vật hương hoa
tôi giú mùa xuân trong tay áo
và chút hơi thu mắt nhạt nhòa
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Hitler believed that the Third Reich would endure a thousand years. It lasted a dozen. Hitler tin rằng Đệ Tam Quốc Xã sẽ kéo dài cả ngàn năm. Nó tồn tại được hơn chục năm. (Sir Alan Bullock)

Thỉnh thoảng, cũng có vài ba thân hữu muốn biết (xem) tôi quê quán nơi nao? Thực là một câu hỏi khó. Tôi sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở Đà Lạt, và sống phần lớn thời gian ở California. Cả ba đều là nơi tập hợp của dân tứ xứ, khó có thể xem là quê hương – bản quán – của bất cứ ai. Tôi cũng chả biết hỏi ai về “gốc gác” của mình vì song thân đã quá vãng từ lâu; anh chị em thì kẻ mất người còn nhưng đều tứ tán và phiêu bạt cả.

Tôi chỉ đoán chừng rằng tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình đều gốc gác là những nông dân từ một làng quê khốn khó nghèo nàn nào đó (kề cạnh sông Hồng) nên cái chất nông phu vẫn còn nguyên vẹn trong máu huyết. Sau khi đã đi nhiều nơi, và có nhiều dịp được nếm thử đủ loại thực phẩm của những những dân tộc khác, tôi vẫn “chốt” lại rằng: ngoài mì quảng, cá rô kho tộ, cá chẻm nấu canh chua, đậu rán tẩm mỡ hành, rau muống luộc – chấm với nước mắm ớt chanh – và cơm gạo tẻ ra … thì chúng ta không nên đụng đũa đến bất cứ thứ thức ăn (tào lao) nào nữa!
Đọc tiếp »

Bùi Nguyên Phong

Tàu lao xình xịch ga Bình Triệu
Ngẩn ngơ, bi tráng… Cảnh hàng bay.
Thuốc lá, cà phê, mì, bắp, gạo.
Đổ nhào theo người xuống đường ray.

Một phút xễnh tay là cụt vốn.
Cầm bằng cả nhà đi ăn mày.
Đi buôn mà như đi ra trận.
Sân ga lớp lớp bọn cướp ngày.
Đọc tiếp »

Đỗ Hải

Thơ: Diệu Lam; Nhạc: Đỗ Hải; Tiếng hát: Hà Thanh (VN)
ban_ky_am

Nguồn: Nhà thơ Diệu Lam gửi nhạc và âm bản mp3

Hồ Đình Nghiêm


Nhà văn Phan Tấn Hải

Không cứ là chuyện cổ tích bao giờ cũng khởi đầu giọng kể bằng “Ngày xửa ngày xưa…” Mỗi chúng ta hôm nay vẫn quen dùng tới nó khi nhớ lại một kỷ niệm đã trôi trong quá khứ. Ngày xưa, tôi từng gặp anh. Anh ở bên Mỹ sang đây, tay bắt mặt mừng những hai lần. Một lần có diễn ra Đại Hội Văn Bút tổ chức ở Montréal (1989). Lần khác anh lặn lội về chung vui cùng nhà văn hoạ sĩ Võ Đình để rồi chung buồn trong vấn nạn khôi hài có tên gọi “động đất ở Mộng Lệ An” (1992). Ngày xửa, anh có tặng tôi tập truyện ngắn “Cậu Bé Và Hoa Mai”. Ngày xưa, dù tổn thất do trận động đất gây ra có lớn tới mức nào đi chăng nữa, xấu xa rồi cũng chóng vuột trôi; nhưng tôi vẫn nhớ, tôi không quên một người: Anh Phan Tấn Hải. Nhớ nụ cười hiền, nhớ mái tóc thưa, nhớ giọng nói chậm rãi thường chứa những ẩn dụ bên trong, dẫu ngập ngừng như kiểu đắn đo trước khi bày tỏ. Nhớ ngày xưa, thấy trán anh bị sưng một nốt bằng ngón tay cái, không dằn lòng tôi buột miệng hỏi để có ngay câu trả lời: Đêm qua Phật chỉ trăng, tôi thưa ồ trăng sáng quá. Phật cười khẽ búng ngón tay vào trán tôi.
Đọc tiếp »

Vỡ tổ

Posted: 02/05/2019 in Locphuc., Thơ

Locphuc.

Khi người dân bỏ nước ra đi
Núi sông ngơ ngác chuyện duyên thì
Bầy chuồn chuồn sắt bay lên xuống
Những con tầu ngập khách chuyển di…

Thôi nhé người đi miền viễn xứ
Chia tay tấc dạ nặng như chì
Bao giờ trở lại quê hương cũ
Nào biết bao giờ? Tiếng nấc ghi!
Đọc tiếp »

Tháng Tư giọt mưa buồn

Posted: 02/05/2019 in Thy An, Thơ

Thy An

thắp lửa suốt một tuần
mùa xuân khi mưa khi nắng
tìm không ra một ký ức đẹp tháng tư
tâm thức rối bời trên những con đường cưu mang
đầy những khúc quanh rạn nứt…
tưởng tượng năm xưa
có đôi mắt đen của người đồng hương nhìn ra biển
nơi có thật nhiều sóng và bọt trắng
những thân gầy yếu ớt
đang trôi trên nước
cầu nguyện được đem lên đất liền
Đọc tiếp »

Ngô Nhân Dụng

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, nhiều đồng bào miền Bắc thương họ hàng ruột thịt trong Nam đói khổ, đã đem cả thúng gạo cùng mấy cái bát, đĩa vào cứu giúp. Đến nơi mới thấy dân miền Nam, khá giả giàu có hơn mình nhiều. Có người, như nhà văn Dương Thu Hương, thì ngạc nhiên thấy đời sống trí thức ở miền Nam quá tự do. Trong tiệm bày bán cả những sách về chủ nghĩa Marx! Đó là chưa kể trong đại học Văn Khoa có những lớp dạy triết học cũng giảng tư tưởng của Karl Marx!

Từ năm 1975 đến nay, cuộc sống của đồng bào miền Nam và miền Bắc ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn. Chế độ cai trị từ Hà Nội đè lên trên Sài Gòn hết cục cựa; nhưng quần áo, thức ăn, ca nhạc, cho đến cách cư xử của người miền Nam có cơ hội Bắc tiến.
Đọc tiếp »

Đường trường xa

Posted: 01/05/2019 in Song Anh, Thơ

Song Anh

Nắng vùi đầu trong giấc mơ xám
trên con đường chiều nay xe cộ nối đuôi nhau
người lính năm xưa
ngồi nhậu đế cùng đám tàn binh ngày nào
bên vỉa hè
dõi mắt theo
nhớ ngày này năm xưa
cũng dòng người xe cộ nhích từng chút
tiếng súng rền vang
và xác người
ly rượu cay nồng
Đọc tiếp »

Phan Tấn Hải

Nhà thơ Đỗ Nguyên Mai vừa ấn hành tập thơ cho ngày 30 tháng 4 năm 2019: Battlefield Blooming.

Tập thơ ấn hành cho ngày tưởng niệm 44 năm Miền Nam sụp đổ dày 60 trang, viết bằng Anh ngữ, vì bản thân nhà thơ Đỗ Nguyên Mai thuộc thế hệ trẻ tại Hoa Kỳ, trước giờ chỉ làm thơ tiếng Anh.

Thi tập do nhà xuất bản Sahtu Press ấn hành.

Tập thơ gồm 40 bài thơ, trong đó có bài dài hai trang — như bài “The Warrior’s Wife” trang 8-9 — và có bài ngắn chỉ 4 câu.

Tuy là rất kiệm chữ, nhưng nhiều bài thơ ngắn mang sức mạnh rất lớn, đặc biệt đối với   người Việt tỵ nạn (và có thể là xúc động cho tất cả những người tỵ nạn toàn cầu).

Thí dụ như bài thơ bốn dòng, trang 13 như sau:

THE REFUGEES

Bones washed
barren onto shores,

we smell of salt;
we open wounds

Đọc tiếp »

Mây tháng Tư

Posted: 01/05/2019 in Thơ, Đức Phổ

Đức Phổ

Muốn đi hết một đời chẳng thể
Đời hư hao tình đã ê chề
Anh từng kẻ vô tình buông thả
Tháng này buồn vẫn rớt lê thê.

Thời gian trôi tưởng chừng quên hết
Chuyện em thường mát ngực trần vai
Em vẫn mấy chiêu trò dụ khị
Có chắc gì đời bớt oan sai.
Đọc tiếp »

Trần Vấn Lệ


Nụ hoa vàng
dinhcuong

Hồi đó, tôi yêu cô bé đó
Miệng cười răng khểnh mới xinh sao!
Tình cờ duyên gặp mà thương nhớ
Có lẽ từ xưa cả kiếp sau?

Cô bé dễ thương tin dị đoan
Miếu thờ Ông Cọp nàng đi ngang
Dừng xe, ghé xuống, lâm râm khấn
Không biết khấn gì trong khói nhang?
Đọc tiếp »

Mỹ Trí Tử

Nhằm xích hóa toàn cõi Việt Nam, CSVN đã tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” bằng mọi giá dưới sự hậu thuẫn và hỗ trợ của Liên xô, Trung Quốc… Đây là một cuộc chiến tranh kéo dài nhất mang đến đau thương mất mát nhất trong lịch sử dân tộc. Cuộc chiến đã gây ra cái chết cho khoảng gần 4 triệu người kể cả binh sĩ và dân thường. Trong đó Việt cộng tổn thất 849.018 binh sĩ bị chết và gần 600.000 binh sĩ bị thương. Phía Việt Nam Cộng Hòa với 220.357 binh sĩ tử trận tính cả mất tích nữa là gần 310.000 và gần 1.170.000 người bị thương. Hàng ngàn ngôi nhà, nhà máy bị san phẳng, hàng chục thành phố bị phá hủy. Không biết bao nhiêu người vợ mất chồng, con mất cha, mẹ mất con. Đau thương tổn thất không kể xiết…

Nhưng sự khổ nạn của người dân không dừng lại sau khi chiến tranh chấm dứt. Khởi đi từ tháng Tư 1975, Việt Cộng đã đưa cả đất nước và dân tộc vào một thời kỳ bi thảm và đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.
Đọc tiếp »

Hậu bẩy nhăm

Posted: 30/04/2019 in Hồ Đình Nghiêm, Thơ

Hồ Đình Nghiêm


Bùi Giáng trên phố Sài Gòn

bát phố

phường nay rất lạ ngợm người
cá mè một lứa vượn đười ươi vui
khỉ ăn ớt con mắt thui
chột lé đánh bạn thân vùi đoàn viên
đảng mình còn hè phố xiêu
tự do cờ xí đỏ chiều lấm lem
kinh tế mới vượt rừng xem
cho tròn sỏi đá dem thèm hột cơm
ta bắt trời hạt mưa đơm
thằng kia đã quyết rác rơm cũng rầu.
Đọc tiếp »

Nguyễn Thị Khánh Minh

Một ngày hè

Dẫy bỏng mầu xanh
Đất cong người ngó
Lửa trong nắng ấy
Đem ngày tới
Lửa trong ngày ấy
Cháy lan màu phượng đỏ
Cháy loang nỗi sợ
Những bóng lá nào còn có thể rơi xuống
Những tiếng động nào còn có thể lay động
Những bước chân nào còn có thể đi
Lời nói bốc khói
Hạt lệ cũng đang bốc khói
Những thành phố, những con đường bốc khói
Người ta đang chụm lửa cả thời gian
Đứng ở đó, một ngày mùa hè, bất động
Mắt nhìn tôi hạn…

Trời ơi. Tôi nhớ những cánh chuồn chuồn bay trước cơn mưa
Rồi nó bay vào trong câu thơ hạnh phúc…
Đọc tiếp »

Đỗ Trường


Nhà văn Cao Xuân Huy (1947-2000)

Sau 1975, Văn học cũng như con người buộc phải trốn chạy, tìm đường vượt biển. Tưởng chừng, nơi miền đất lạ, dòng văn học tị nạn ấy sẽ chững lại. Nhưng không, nó như những nhánh sông âm thầm vặn mình bồi lên mảnh đất khô cằn đó. Chiến tranh, người lính vẫn là đề tài nóng bỏng để các nhà văn tìm tòi, khai thác. Vào thời điểm ấy, những nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư, Thế Uyên… đang ở độ chín và sung sức. Và sau đó, xuất hiện hàng loạt nhà văn xuất thân từ những người lính chiến đã trải qua những năm tháng tù đày, như: Phạm Tín An Ninh, Song Vũ hay Cao Xuân Huy… Tuy văn phong, thi pháp riêng biệt, nhưng tựu trung, mỗi trang viết của họ đều để lại những ấn tượng thật sâu sắc trong lòng người đọc. Nếu văn của Phạm Tín An Ninh đẹp, sáng và nhẹ nhàng, thì từ ngữ trên những trang viết của Cao Xuân Huy nặng tính khẩu ngữ trần trụi, mãnh liệt. Có một điều rất thú vị, đọc Cao Xuân Huy, tôi lại nhớ đến nhà thơ người lính Nguyễn Bắc Sơn. Bởi, tính đặc trưng ngôn ngữ làm nên hình tượng, chất lính rất đặc biệt trong thơ văn của hai ông văn sĩ này.
Đọc tiếp »

Nguyễn Văn Gia

Có thề đâu
mà sống chết cùng quê
Nói vậy thôi chớ xa quê
chịu sao cho thấu
Dẫu đá nát vàng phai
một đời trôi nổi
Có ra đi rồi cũng chỉ để
trở về
Đọc tiếp »

Yên Nhiên

Phút cuối

Kỷ niệm lần cuối giã từ Thủ Đô vào khuya 28 rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975

Sài Gòn yêu dấu ơi
Đêm nay thất lạc người
Vẫy tay chào giã biệt
Âm thầm giọt lệ rơi

Bập bùng ánh hỏa châu
Sài Gòn chìm đêm thâu
Từ nay là xa cách
Triền miên một nỗi sầu
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Ngày ngắn đêm dài đêm lại sáng
Đêm qua ai có bạc đầu không?

(Tản Đà)

Bây giờ là cuối tháng Tư. Có những ngày tháng, thời gian chuẩn điểm gây ám ảnh, ray rứt thù hận suốt một kiếp người. Một tháng tư ở Việt Nam – thường – là một ngày mưa. Một buổi chiều mưa. Mưa đầu mùa. Một buổi chiều mưa đầu mùa, trời chuyển âm u thấp xám. Thời gian và không gian như ngưng đọng lại trong giây phút chuyển mùa. Rồi sấm chớp và kế tiếp là những giọt mưa nặng hạt, ào ạt, xối xả, phủ kín vạn vật.

Mưa gội sạch cây lá, tưới mát những bãi cỏ úa vàng, thấm ướt đất khô cằn cỗi. Nước mưa, nguồn sinh lực kỳ diệu đã làm vạn vật hồi sinh sau những ngày nắng cháy .
Đọc tiếp »

Luân Hoán

tháng tư làm thơ tháng tư
chuyện ở trong máu hồ như bình thường
riêng tôi nhức nhối bi thương
vời vợi thấm thía nỗi buồn tháng ba

tháng ba, ừ cuối tháng ba
tháng chống chèo chiếc honda về nhà
cái xe sao giống người ta
hết hồn khiếp vía ngã ra giữa đường
Đọc tiếp »