Lý Thừa Nghiệp

Khúc bi hoa

Thì cứ rót vòng quanh màu trà đậm
Chuyện muôn đời tiếng sấm nổ bâng quơ
Em có thấy đất trời kia thăm thẳm
Giữa đôi bờ nhật nguyệt cháy vu vơ.

Cây phượng vĩ già nua màu son nhạt
Người qua sông mưa nắng cũng qua sông
Trời hôm đó đỏ một màu nắng lạ
Những con chim không hót buổi theo chồng.
Đọc tiếp »

Pha màu

Posted: 11/10/2017 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn
nhớ những thân tình đã khuất

nằm gối lên tê dại
cánh tay
lưng
phảng
tuổi hương trầm nghi ngút. đêm
bưng vào sương ký chuyện dập bầm
đồi mây
lập bóng
Đọc tiếp »

Võ Kỳ Điền

Tôi có ông bạn già thân tình. Mỗi lần gặp nhau là vui lắm vì có nhiều chuyện để nói. Bạn có một quá khứ đầy ắp, nói hoài cũng không hết. May là bạn không bị đi học tập, nếu mà vào trại cải tạo thì lý lịch của bạn khai báo, phải dầy như cuốn tự điển. Mà chuyện mới thì không nói gì, có nhiều chuyện cũ xì, được bạn kể đi kể lại, không biết bao nhiêu lần, mà mỗi lần kể, như là câu chuyện chưa bao giờ được nói ra. Thiệt là ngộ. Mỗi lần nghe bạn kể tôi thấy như là câu chuyện mới tinh khôi, sôi nổi, hào hứng. Nghe hoài, không chán. Rõ ràng là ông lẩm cẩm nầy kể chuyện cho ông lẩm cẩm kia nghe. Hổng vui sao được.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

miền Nam giết chợ xó đường
đầu ngày vào Tạ ông ruồng ngã ba
ở tôi Gòn Sài tư quận
không thể trở về bất luận tất nhiên

đấy người thân (thích)
xác kẻ nào nằm (hổng ham)
dù được ai đứng ai đi
kẹt giữa hai lằn đạn thi nhau nổ
Đọc tiếp »

Miếu âm hồn

Posted: 11/10/2017 in Lê Quang Đông, Thơ

Lê Quang Đông

Chiều đi qua sông muộn
Lá như nghìn mắt xưa
Xanh xao hồn tử sĩ
Chiến chinh buồn ngày xưa

Có người không áo trận
Chết gục vào bát cơm
Hồn bay theo đạn lạc
Mộ phần xanh hố bom
Đọc tiếp »

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Năm 1918, ra Hà Nội viết cho Nam Phong tạp chí, nửa chừng, Phan Khôi xin thôi việc, về nhà. Năm 1919 anh vào Sài Gòn, trước viết cho tờ Quốc dân diễn đàn của ông Chủ nhiệm Nguyễn Phú Khai, về sau viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, chưa được bao lâu thì bị giải chức. Thấy con tay trắng trở về, cụ Phan Trân cha anh rất phiền lòng. Cụ đã khuyên anh không biết bao nhiều lần, rằng anh là con độc đinh, như hũ mắm treo đầu giàn, lại đã có vợ có con, ở nhà lo chí thú làm ăn, thờ phượng ông bà tổ tiên, mới là phải đạo. Đời người như bóng câu qua cửa sổ, loáng một cái là hết, nào có lâu la gì. Thấy cha phiền trách, Phan Khôi nghĩ về bản thân mà ân hận: té ra anh chẳng những là thằng người không biết chiều theo đời, mà còn là đứa con không biết chiều bụng cha!
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân
(với nhà thơ Trần Huy Sao).


Từ trái: Trần Huy Sao & Phạm Hồng Ân

Lác đác xuân rơi. lác đác rơi.
ngồi đây. hồn bỗng giạt cuối trời.
buổi sáng. đường rừng. treo. chân núi.
nhắc tôi đi. chở bạn. rong chơi.

ừ thì nhấn ga. cũng tới thôi.
hiên trăng. đằng trước mặt ta rồi.
những con cá. lội. trong hồ nước.
ngó dáng tôi vui. chợt. gượng cười.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Tiếng chim trên dòng Sê-rê-pốk

Có tiếng chim lạ quá
Hót vang cả đôi bờ
Trên dòng Sê-rê-pốk [1]
Khúc tình ca trong mơ.

Gọi em về bên suối
Ché rượu cần say nồng
Bếp lửa hồng mở hội
Tiếng cồng chiêng mênh mông.
Đọc tiếp »

Mỹ Trí Tử

Thỉnh thoảng nhớ lại những kỷ niệm lúc về thăm Việt Nam, chợt biết là “có những điều nếu không hiểu ngọn ngành thì khó mà chấp nhận được.” Một buổi sáng sớm, tôi đi về phía công viên Lê Nin, ngồi ngắm những đứa bé được ba mẹ dắt đi chơi. Ngày chủ nhật được nghỉ nên bọn trẻ tập trung ở đây rất đông. Đúng như tên gọi, giữa công viên có một bức tượng Lê Nin đứng hiên ngang và vững vàng, tuy rằng vào năm ấy không còn tượng Lenin nào ở những nơi công cộng trên khắp nước Nga nữa. Có một nhóm trẻ ra dáng như đang múa, miệng nghêu ngao hát “Bác Lê Nin ở nước Nga, tại sao lại đứng vườn hoa nước mình?” Rồi chợt một đứa trẻ ngồi gần đó lập lại câu hát và hỏi mẹ tại sao. Người mẹ hơi bối rối chút ít rồi nhìn xung quanh như thể dò xem có ai nghe thấy con mình vừa hỏi không, rồi vội kéo con đi xa khỏi tượng Lê Nin và trả lời với cô bé rằng: “Do vườn hoa nước mình có nhiều loại hoa đẹp nên bác Lê Nin thích con ạ.” Vô tình nghe mà phải cố lắm mới tôi nhịn được cười.
Đọc tiếp »

Dạ khúc mùa thu

Posted: 10/10/2017 in Phạm Hải Âu, Thơ

Phạm Hải Âu

Tháng mười đến gọi thu đi
Hạt nắng vàng cũng thầm thì thổn thức
Em mang vần thơ thủa trước
Tặng cho người, tình khúc cuối mênh mông

Anh trở về thì cải nở ven sông
Tháng năm trôi theo chiều dài con nước
Ta xa nhau mái chèo khua sóng ngược
Để triều cường con thuyền nhỏ lênh đênh
Đọc tiếp »

Vũ Trầm Tư

Tình về với Huế

Vẫn là Huế của ngày xưa
Cớ sao mắt Huế buồn mưa nội thành
Đông Ba, Gia Hội, Bao Vinh
Nét duyên gái Huế nặng tình cố đô

Hoàng hôn trên sóng nhấp nhô
Hương giang ai đợi… bên bờ trúc xinh
Thuyền trôi, bóng núi Ngự Bình
Nghe câu hò Huế, nỗi mình ngẩn ngơ
Đọc tiếp »

Song Thao


Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh

Huỳnh Công Ánh là một nhạc sĩ. Anh sống với nhạc. Nhạc tranh đấu. Tháng 3 năm 1985, anh cùng các nhạc sĩ Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Ni Tấn, Hà Thúc Sinh và Nguyệt Ánh thành lập phong trào Hưng Ca. Trước đó, khi đi tù cải tạo anh cũng vác nhạc theo. Trong tù, khi các “đồng chí tù” bị ngồi hát, cán bộ cần một người điều khiển hát đồng ca. Anh cán bộ, người miền Bắc, hỏi: “Ai biết cầm càng?”. Cả nhóm tù ngơ ngác không hiểu cầm càng là chi. Sau đó họ mới “học hỏi” được một từ mới. “Cầm càng” là bắt nhịp cho mọi người hát đồng ca. Cán bộ hỏi tiếp: “Anh nào biết hát nhạc cách mạng?”. Hỏi “ngụy” hát nhạc “cách mạng” coi như bù trất. Huỳnh Công Ánh kể lại: “Thấy mọi người ngồi yên, tôi mới hỏi lại: “Nếu cán bộ có bản nhạc có nốt thì tôi hát được”. “Nốt là cái gì thế?”. “Nốt là cung bậc thấp cao, viết theo ký âm pháp”. Anh cán bộ coi chừng chưa hiểu, đứng nghệch mặt ra, nhưng cũng ráng hỏi: “Anh chắc làm được chứ?”. “Thưa chắc”. Sáng hôm sau, anh cán bộ đưa xuống đội một tập nhạc dày cộm: “Anh gì đấy? Cái anh hôm qua, đây này, anh xem và hát thử xem nào!”. Hôm đó cả đội đang tập trung phê bình kiểm điểm công tác lao động. Tôi cầm tập nhạc, mở ra một trang, đó là bài hát có tựa đề là “Gái Sông La”. Tôi xướng âm từng nốt nhạc và lẩm nhẩm hát lời, đến giờ nghỉ, tôi nói: “Tôi có thể hát được rồi, cán bộ!”. “Đâu, anh hát đi”. Khi tôi hát, anh em trong đội ai cũng lắng nghe. Xong bài, mọi người ai nấy đều vỗ tay, riêng anh cán bộ, ngạc nhiên, đứng ngẩn ra: “Thế năm nay anh bao nhiêu tuổi?”. “Tôi 29”. “Vậy anh nghe đài Hà Nội bao giờ mà anh biết hát?”. “Tôi cả đời chưa nghe đài Hà Nội bao giờ. Tôi hát là hát theo từng nốt nhạc trong sách”. “Thế nà thế lào?”. “Đây là ký âm pháp quốc tế, ai có học qua nhạc lý và học xướng âm đều hát được”. Anh cán bộ vẫn đớ ra chưa hiểu ký âm pháp là gì!”.
Đọc tiếp »

Viên Dung

Mẹ hiểu cha con

mẹ hiểu lời cha con
hồi nhắm vào phương bắc
nhẫn nhịn mà
không để oai quyền đen tối hành khiển

phẩm hạnh suy đồi
một vết nhơ thời lệ thuộc
một nghìn năm đốt đuốc tìm cứu quốc
phận đời rách nát, cất đầu không lên
Đọc tiếp »

Vương Ngọc Minh

Chiến Tranh VN. after Nguyen Van Thieu.

vào ngày bọn đầu đường xó chợ giết miền nam
tôi ở ngã ba ông tạ
sài gòn
không thể trở về quận tư
tất nhiên cũng không thể đi thăm
viếng
ai được- dù đấy người thân (thích)

quả đúng là
đang kẹt giữa hai lằn đạn

thấy người ta bảo ngoài đại lộ trần hưng đạo
nhiễu nhương chồng chất
tụi 30 ngồi xe jeep
lũ chó đeo cờ hai màu xanh. đỏ
rác rưởi
ngổn ngang xác cờ ba sọc bị chà
đạp
Đọc tiếp »

Trịnh Bình An

Mới rồi, anh Song Thao email qua, gởi tặng tôi mấy cuốn Phiếm của anh ở dạng eBook. Một nhà văn thành danh từ Sài Gòn trước 75, ra hải ngoại, sức viết của anh không hề giảm sút, tới nay Song Thao đã có trên 10 tập truyện và 18 tập Phiếm (đang sửa soạn tập 19). Nay, anh chuyển việc phát hành sách qua Amazon với hai loại: sách giấy và eBook.

Vì tựa bài phiếm nào của Song Thao cũng chỉ độc một chữ như Tình, Tiền, Tù, Tội,… nên tôi hỏi đùa, Chắc anh sẽ có bài “eBook” chứ. Song Thao cười bảo: “An viết đi cho tôi đọc ké.”

Tôi là đứa có tính hay tò mò, cái gì cũng thích tìm hiểu, nhưng thường biết rồi để đó hay có làm cũng nửa chừng rồi thôi. Về eBook tôi có biết một chút, biết luôn cách dùng Sigil và Calibre để làm thành một cuốn eBook, nhưng chưa đi xa đến mức đưa được sách bày bán trên các cửa hàng lớn Amazon như Song Thao.
Đọc tiếp »

Victor Hugo (1802—1885)
Yên Nhiên chuyển ngữ từ nguyên tác Demain, dès l’aube

Rạng sáng mai

Rạng sáng mai đồng quê sương giá
Cha sẽ đi — con đã mỏi mòn
Băng rừng lội suối trèo non
Xa con cha vẫn héo hon can tràng

Chân bước đi mang mang trầm mặc
Chẳng màng chi dằng dặc đường chiều
Lưng còng bóng ngả liêu xiêu
Ngày đêm sớm tối tiêu điều cô đơn
Đọc tiếp »

Hạc Thành Hoa

1.
lẩn vào đám đông như chạy trốn
không kịp nhìn mặt một ai
vì tiếng còi tàu đang thổi tới một trận bão
vội vã lên toa tàu
dành cho những người đi vé cứng
chỗ ngồi ngược hướng con tàu
nhìn mãi về phía sau
và bắt đầu một cuộc hành trình
đi vào cơn bão
Đọc tiếp »

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Chương Dân Phan Khôi với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là những người cùng thời, cùng từ cửa Khổng sân Trình bước ra, cùng phá cái nghiệp chữ Hán để theo nghề viết văn Quốc ngữ và cùng nổi tiếng lúc sinh thời với một người là nhà báo, một người là thi sĩ. Hai ông là bạn thiết, nhưng lại có số phận rất khác nhau.

Tản Đà quê Sơn Tây, sinh năm 1888, mất năm 1939 lúc mới năm mươi hai tuổi, dưới thời người Pháp còn cai trị. Sự nổi tiếng của ông lúc sinh thời, vì thế, cứ còn đó và treo trên đầu văn giới, người đời sau mỗi lần nhắc đến ông đều phải ngước lên chiêm ngắm.

Phan Khôi quê xứ Quảng, sinh năm 1887, hơn Tản Đà một tuổi, sống đến tận thời Dân chủ Cộng hòa sau khi người Pháp đã bị đuổi đi, rồi mới qua đời năm 1959, thọ bảy mươi ba tuổi. Đó cũng là lúc ông từ một nhân sĩ yêu nước bỗng chốc trở thành kẻ tội đồ, theo đó, sự nổi tiếng lúc sinh thời của ông bị vùi xuống bùn đen, nhiều chục năm sau người đời cố tình quên ông đi. Nhưng rồi đến lúc người đời lại phải nhắc đến ông, đưa ông trở lại cuộc sống bằng cách tái công bố hơn 2500 bài báo của ông trong quá khứ, chứa đầy 8000 trang sách. Sự nổi tiếng lúc sinh thời của ông, vì thế, xem ra còn được ngưỡng vọng hơn trước, mặc dù ông đã về chầu Trời hàng nửa thế kỷ nay.

Có cái số mệnh khác nhau đó là bởi giữa họ đã tồn tại hai cái tính cách khác nhau.
Đọc tiếp »

Nguyễn Văn Gia

Con sông
hiền hòa
không rộng lắm
Chỉ dăm bảy phút
bước sang cầu

Mà bao năm tháng
xa thăm thẳm
Tình người chết lặng
dưới sông sâu

Bao nhiêu trai trẻ
không về nữa
Gái trai cái tuổi
chớm yêu nhau

Mộng lớn mộng con
vùi trong lửa
Hồn oan vất vưởng
khắp nơi nơi
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân
(Tưởng niệm các nạn nhân vô tội chết đêm 01/10/2017, Las Vegas)

Ma quỷ ẩn trong thân xác con người
thuần phục trái tim thành tim thú dữ
đêm Chúa yên lành biến thành đêm bức tử
hàng trăm người vô tội máu hồng loang
tên quỷ cuồng điên hay tham vọng hung tàn
tử vì đạo để mơ về cõi khác
nơi có sẵn muôn vàn cái ác
được bọc nhung, bọc gấm, bọc mật, bọc đường  Đọc tiếp »

Trần Mộng Lâm

Mùa thu là mùa của lá cây lìa cành, những cuộc tình tan vỡ, mùa của thi sỹ, nhạc sỹ với các sáng tác để đời… Nhưng mùa thu cũng là mùa của những kỷ niệm êm đềm trong cuộc đời của mỗi người trong chúng ta, nhất là khi đã về già.

Bài viết này xin mở đầu bằng những vần thơ của thi sỹ Tản Đà, mà chắc nhiều người đã thuộc lòng, từ những năm, những tháng trong dĩ vãng xa vời:

Gió Thu.

Trận gió thu phong rụng lá vàng.
Lá rơi hàng xóm lá bay sang.
Vàng bay mấy lá năm già nửa.
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.

Trận gió thu phong rụng lá hồng.
Lá bay tường bắc, lá sang đông.
Hồng bay mấy lá năm hồ hết.
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không.

Đọc tiếp »

Quê hương

Posted: 06/10/2017 in Âm Nhạc, Hà Thanh, Hoàng Giác

Hoàng Giác

Nhạc và lời: Hoàng Giác; Tiếng hát: Hà Thanh
ban_ky_am

Nguồn: Hợp âm Việt

Huyền Chiêu
Để tưởng nhớ nhạc sĩ Hoàng Giác, mất ngày 14 tháng 9 năm 2017


Nhạc sĩ Hoàng Giác (1924-2017)

Năm 1954 Hoàng Giác không vào Nam nhưng ca khúc Quê Hương của ông đã di cư theo bước chân người viễn xứ, trở thành giọt nước mắt thương nhớ chốn quê nhà không bao giờ còn được trở lại.

Ai qua miền quê binh khói
Nhắn giúp rằng nơi xa xôi
Tôi vẫn mơ tùm tre xanh ngắt
Tim sắt se, cảnh xưa hoang tàn

(Quê Hương)

Khác với Đoàn Chuẩn, không nỡ rời bỏ Hà Thành có mùa “thu quyến rũ” , có “em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung”, Hoàng Giác luôn quay quắt với tình quê hương đầm thắm:

Bao nhiêu ngày vui thơ ấu
Bao nhiêu lều tranh yêu dấu
Theo khói binh lều tan, tre nát
Theo khói binh, lòng quê héo tàn

(Quê Hương)
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc

Áo lụa vàng

nghe thủ thỉ mùa thu về trước cửa
sáng mai nao em mặc áo lụa vàng
chợt như ngỡ có nỗi buồn dừng lại
loanh quanh hoài trong ký ức mênh mang

con bướm đó bao lần say giấc ngủ
thu bềnh bồng trôi nhẹ gót hiên xưa
tôi ngơ ngác nhìn mây trôi vời vợi
vắt qua thu từng chiếc lá sang mùa
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao


Mùa Thu
dinhcuong

Mùa thu nhớ tình

hoa Cúc vườn nhà sao không hé nụ
tháng Chín về đâu thấy gió heo may
tóc thề em chưa lãng mạn gió bay
Thơ tôi viết nắng khô ran dòng mực

câu chữ đêm khuya vẫn còn thao thức
chớm Thu về sao vẫn nóng hầm dông
Thơ mùa Thu chưa kịp chấm xuống dòng
nghe rít bàn tay oi nồng dáng Hạ
Đọc tiếp »

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Gần sáu mươi năm nay, lớp độc giả có tuổi vẫn chưa quên chuyện hồi cuối những năm năm mươi thế kỷ trước, một số nhà nghiên cứu – hòa vào bản trường ca chống Nhân văn – Giai phẩm – đã phê phán dịch giả Phan Khôi, đại ý: ở giữa thời Dân chủ Cộng hòa, mà khi gặp một chữ Pháp có nghĩa là khoai tây, ông lại không dịch là khoai tây, mà dịch ra một cái tên nghe rất trái tai và khó chấp nhận, là khoai nhạc ngựa. Và vì ngay sau đó ông trở thành nhân vật phản diện chủ chốt trong câu chuyện Nhân văn – Giai phẩm, nên nhiều người còn ra ý phê phán nặng hơn, cho rằng: thái độ chính trị của ông đối với chính thể đương thời là thiếu nghiêm túc!

Về các khiếm khuyết trong dịch thuật có liên quan đến một dịch giả uy tín như Phan Khôi, về sau này độc giả chỉ được đọc như thế và chỉ biết như thế, không ai cất công tìm hiểu để biết tại làm sao sự thể lại ra nông nỗi ấy? Vậy là mặc nhiên chuyện đó trở thành một cái án ông phải đeo, mà rủi thay, ông thì đã trở thành người thiên cổ ngay sau đó ít lâu, nên cái án đó ông vẫn phải đeo cho tới tận bây giờ!
Đọc tiếp »

Hoàng Xuân Sơn

Tập nói

có chắc gì chúng ta gặp nhau tự do (*)
mà không có con mắt dòm qua lỗ khóa
những gọng kìm cặp kè
những viên đạn vẫn còn bắn đi
từ lũ đầu óc mã tử
có đứa đã từng bận áo xú uế cho tối thiểu bình quyền
tự do ôi tự do
cứ tin đi, các bạn
những cơn ho lặc lè vẫn còn đó
thổ huyết mùa đông
bầm dập xuân hè
những cái khóc dù không đồng bộ
như cùng xứ sở ủn ỉn
cái khóc nhiều khi đẩy ngược vào bên trong
làm thành nụ cười méo mó
giả lả. và giả trá
có giá nào không phải trả
chúng ta lại bắt đầu tập đọc
đánh vần không phải đơn giản từ a.b.c
mà phải lội ngược dòng
z.y.x . . .

3 sept. 2017
Đọc tiếp »

Đàm Trung Pháp


Victor Hugo (1802-1885)

Tuyển tập “Les Contemplations” (Chiêu Niệm) của Victor Hugo (1802-1885) chứa đựng 158 bài thơ ghi lại các kỷ niệm của ông về những chuyện vui buồn trong đời sống thường nhật, gồm cả nỗi đớn đau khôn lường do cái chết mang lại. Tất cả được thi hào sáng tác trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1855 và cho xuất bản năm 1856. Trong số những bài ghi lại nỗi đớn đau vì tử biệt trong “Les Contemplations,” vô số độc giả trong cũng như ngoài nước Pháp đã coi bài “Demain, dès l’aube” (Ngày mai, ngay lúc rạng đông) như một tuyệt tác mà có người đã học thuộc lòng ngay sau lần đọc đầu tiên. Victor Hugo viết bài ấy trong dịp tưởng niệm hàng năm lần thứ tư sự qua đời quá sớm của cô con gái đầu lòng Léopoldine. Tuyệt tác chỉ gồm 12 dòng thơ chia làm 3 đoạn (strophes) giản dị trong sáng nhưng đậm nét sầu thương dùng để dựng lên trong tâm trí thi hào một chuyến sắp đi thăm mộ cô con gái thương yêu nhất của ông.
Đọc tiếp »

Quảng Tánh Trần Cầm

Đêm về

đêm về nghe gió băng băng
dồn dập, tả tơi tàu chuối kiểng
xé dọc, xé ngang tháng, ngày trơ trụi
xóa bỏ kỷ niệm te tua
trí nhớ, trí quên
trí tuệ, trí huệ, trí lan
vàng võ ánh trăng chín muồi
ngẩn ngơ, hoang mang, hư ảo
Đọc tiếp »

Thi Quân

Nhạc và lời: Thi Quân; Tiếng hát: Thu Hoài Nguyễn
ban_ky_am

Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3.

Hồ Đình Nghiêm

Bạn tôi mở đầu bằng hai chữ Cảm ơn. Sao có lắm đứa xấu bụng bảo rằng ở chốn ấy chẳng còn ai dùng cám ơn và xin lỗi? Cảm ơn thời đại internet, nhờ nó mà tao bắt được mày. Điện thư viết không dài, chủ đích chỉ nhằm dóng tiếng: Đi chi mà lâu ác! Mút mùa lệ thuỷ quỉ tha ma bắt. Về đây đi mi, (mặc áo the đi guốc mộc?) tao đón ở Tân Sơn Nhất bao cơm hàng cháo chợ và vào nhà nghỉ vô tư thư giãn mươi ngày. Việt kiều không chắc đã nhiều tiền đô bằng tao đâu nhé! Ủa, mày đã là đại gia? Không dám đâu!
Đọc tiếp »

Huy Uyên

Gởi người con gái Vĩ-Dạ

Mưa chiều ngang thôn Vĩ-Dạ
Tình có theo em về kịp Ngọc-Anh
Đã xa rồi tháng ngày thương nhớ
Dấu kín vào tim lặng lẽ mối tình.

Đứng lại bên đường phiên chợ Mai
Bà con nghèo trơ vơ lều chõng
Thương quê mưa giọt ngắn giọt dài
Buổi đi xa không người đưa tiễn.
Đọc tiếp »

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)
85 năm bài thơ Tình già (1932 – 2017)


Nhà thơ Phan Khôi (1887-1959)

Tám năm trước đây – vào năm 2009 – nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân phát hiện: bài báo Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi – trong bài có đăng kèm bài thơ Tình già – lần đầu tiên được đăng trên Tập văn mùa xuân của báo Đông Tây số Tết Nhâm Thân 1932, ở Hà Nội. Cũng bài báo này và bài thơ này, nhưng bản đăng ở báo Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 trong Sài Gòn, muộn hơn khoảng một tháng, lại bị Sở kiểm duyệt yêu cầu đục bỏ mất trên một trăm từ, cụ thể là bỏ hết những đoạn nào, từ nào nhắc đến bài Dân quạ đình công của Phan Khôi gắn với phong trào xin xâu, kháng thuế ở Trung Kỳ đầu năm Mậu Thân 1908 – một phong trào tự phát, bất bạo động nổi lên tại Quảng Nam, rồi như sóng trào, nhanh chóng lan ra khắp mười hai tỉnh miền Trung, bị thực dân Pháp và Nam triều đàn áp dã man – theo đó, các chiến sĩ Duy tân, gồm cả tác giả bài thơ, bị bắt, bị tù đày.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Mưa trên đèo Măng Đen*

Mưa theo tôi qua những cung đường
Mưa theo em ướt lạnh mùi sương
Đèo cao dốc đứng dài thăm thẳm
Thông bạt ngàn nối tiếp đồi nương.

“Ruồi vàng bọ chó gió Măng Đen”
Biên ải đồn binh pháo thảm liền
Lam khí trùng trùng muôn dặm phát
Thác ghềnh hiểm trở đấtTây Nguyên.
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh TrinhNhã Lan


Tranh của Trần Thanh Châu

PHẦN II

Nhã Lan: Thân ái chào tái ngộ Lưu Na

Lưu Na: Xin chào tái ngộ

Nguyễn Mạnh Trinh: Tôi đọc trong Lênh Đênh thấy Lưu Na trách móc lớp đàn anh đàn chị đã bỏ rơi mình thì tôi thấy lạ quá, vì chính chúng tôi cũng bị bỏ rơi, chúng tôi cũng là nạn nhân chứ đâu chủ động để bỏ rơi người khác. Như vậy tại sao LN lại có ý nghĩ là lớp đàn anh đàn chị bỏ rơi lớp trẻ… () Có thể tôi đọc bị hiểu lầm bị nhiễu xạ, xin cô giải thích.

Lưu Na: Cho em nói như vầy, khi anh NMT nói lớp đàn anh thì em hiểu anh NMT muốn nói tới lớp sinh viên đi trước và những người quân nhân. Rõ ràng sinh viên và quân nhân là lứa đàn anh; sinh viên thì em không có ý kiến vì em không biết nhiều, bây giờ nói đến lớp quân nhân là lớp ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến LN, thì gia đình LN cũng có người tử trận, và cũng có người lính – cũng phải ở tù. (Như vậy), trước tiên là gia đình LN cũng có lính nên Na không có lý do gì oán trách người lính. Bây giờ nghĩ chung về một thế hệ thì Na thấy, những người quân nhân những người lính cũ họ muốn hay không thì vì cuộc chiến họ đều phải tham dự. Tham dự, nếu không mất mạng thì cũng mất tuối trẻ, bây giờ cuộc chiến tàn họ phải vào tù mà những người không vào tù – ở bên ngoài trốn chui trốn nhủi sống rất là bấp bênh, đói khổ, thảm thiết lắm. Những trường hợp như vậy mình thương không hết, không có lý do gì để giận. Nhưng tuổi đời càng lớn càng nghĩ đến những mất mát của họ, nói cho cùng LN nghĩ mình nợ những người lính đó một mạng sống một cuộc đời, và LN tin không phải chỉ mình LN mà rất nhiều người cũng nghĩ như vậy. Họ đã hy sinh đã mất mát rất, rất nhiều, chịu đau khổ rất nhiều, Na không có lý do gì oán trách họ. Thành ra, nếu trong Lênh Đênh có nhắc một điều gì đó để gây hiểu lầm thì nơi đây nhờ anh Trinh hỏi Na có dịp để nói: không có chuyện đó.
Đọc tiếp »

Huỳnh Minh Lệ

Tử thần đường phố

bây giờ cạm bẫy khắp nơi
hố ga không nắp tiêu đời các em
mẹ cha bỏ xứ mưu sinh
chiều mưa vĩnh cửu tội tình ai gây
phước long ai oán còn đây
làm ăn tắc trách bầy hầy đã quen
rồi mùa mưa đến mỗi năm
tử thần đường phố vẫn nằm đâu đây

29.09.2017
Đọc tiếp »

Phan Ni Tấn

Hương Hải là tên của một ngôi thiền tự do đại đức Thích Thông Trí trụ trì. Tuy còn trong thời kỳ phát triển nhưng Thiền tự Hương Hải có một lịch sử đáng kinh ngạc khiến cho nhiều người phải suy nghĩ và kính phục trước ý chí quyết tâm tu đạo của một bậc đại giác.

Được biết khi song thân của thầy Thích Thông Trí lần lượt qua đời, Thầy rời xa thế tục vào chùa quy y tam bảo. Sau một thời gian tu tập Thầy nảy ra ý định muốn vào rừng ẩn tu. Không biết có phải duyên nhà Phật đưa đẩy hay không, đã dẫn dắt Thầy lặn lội vào tận khu rừng hoang dã thuộc quận Tweed, gần Bellville, Ontario. Lúc nghỉ chân trước một căn chòi xiêu vẹo tình cờ Thầy gặp một người thợ săn đúng lúc giải nghệ muốn bán đất. Sau khi ngã giá và qua các thủ tục hành chánh,Thầy đã sở hữu được mảnh đất rộng 25 mẫu. Hồi đó đường vào đất Thầy không có đường xe, chỉ có một con đường mòn len lỏi giữa những cây rừng bạt ngàn. Miếng đất, miếng rừng mênh mông không một bóng người, cách một hai cây số mới có một căn nhà của dân, vậy mà một mình Thầy vẫn quyết tâm tu hành ở đây.
Đọc tiếp »

Thy An

buổi sáng mùa thu
chén trà xanh đem về những giọt sương
thấm vào trái tim bồng bềnh,
cỏ non xanh mướt
nghe đâu đó tiếng hát con chim lạ
tháng chín chợt về trên tàng lá xanh mơ…
thơ lênh đênh đậu lên dàn phong đỏ đợi chờ
nơi ai đó đã tạc lên những tượng đền nho nhỏ
mong manh như kỷ niệm…
đời người đi qua như cơn gió
trên những khu nhà mái đỏ xa xưa
con lắc thời gian ròng rã nhịp đong đưa
trôi, trôi mãi
bước chân ta không hề theo kịp.
Đọc tiếp »

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Tôi dõi theo…

Một buổi chiều cuối năm 2003, đang làm việc tại cơ quan thì tôi nhận được điện thoại của Lại Nguyên Ân, anh hẹn sẽ sang gặp tôi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi biết nhau, ngồi với nhau trao đổi các việc chung quanh tập sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1928 do anh sưu tầm và biên soạn, vừa ấn hành hồi tháng sáu. Tôi bất ngờ và không giấu nổi xúc động, vì từ ngày cha tôi qua đời, gần năm mươi năm qua, tôi chưa bao giờ dám nghĩ sẽ có ngày các tác phẩm đăng báo từ thời Pháp thuộc của ông lại được tái công bố. Tôi biết đâu là hơn mười năm nay Lại Nguyên Ân đã lặng lẽ làm việc đó và giờ đây tôi được cầm trên tay tập sách đầu tiên của bộ sách anh dự định làm cho đến khi nào hết mới thôi. Kết thúc buổi gặp, anh tặng tôi một bản sách còn thơm mùi mực in và đưa tận tay tôi một cái phong bì mỏng, nói là tiền nhuận bút nhà xuất bản gửi trả cho gia đình. Tôi nhận và nói lời cảm ơn, còn dặn thêm anh, rằng các tác phẩm của cha tôi đã đăng báo từ bảy mươi, tám mươi năm trước, theo luật thì chúng đã thành của chung, nên từ lần sau anh nói nhà xuất bản không phải trả nhuận bút nữa. Bữa đó về nhà tôi kể lại cho mẹ tôi nghe, chuyển tận tay bà cái phong bì đựng tiền nhuận bút của ông, bà đặt lên bàn thờ, thắp nén hương kính cáo với ông. Hôm sau, bà mở phong bì, đếm tiền, tôi nhớ đâu như là một triệu sáu, tôi dặn mẹ tôi giữ lấy khoản tiền ấy vì nó là của ông để lại cho bà.
Đọc tiếp »

Hậu sông Gianh

Posted: 03/10/2017 in Lê Quang Đông, Thơ

Lê Quang Đông

Trở về sau cuộc chiến
Những người nghèo gặp nhau
Rượu buồn cúng tử sĩ
Giác ngộ lòng rất đau…

Người nghèo như cơm nguội
Hẩm hiu vào chiến tranh
Hận thù nhau vô cớ
Giết nhau cũng không ngờ
Đọc tiếp »