Trần Huy Sao

Cho một ngày nhận diện

sáng đi bộ một vòng
rồi ghé ngồi Starbucks
ly cà phê hùng hục
bỏ thêm đường cho ngọt

ôn Mỹ bên ngó nhột
thắng ni hắn…uống đường?…

ra ngoài ngồi ngó hướng
ngại nắng rọi rám da
mược dù ngồi sa cạ
cũng khác biệt da màu
Đọc tiếp »

Viên Dung

Em à, trời sụp tối

thăm nuôi, một cách trời nhỏ mưa
tôi thấy em trở ướt bên bờ rào
mưa lất phất lối về lẻ loi
em bóng nhỏ quạnh hiu phên chòi vách gió
đây, tôi cắm cúi tháng ngày bỏ công không

vẳng nhạc buồn năm cũ bên sông
gợi lòng, hôn em trong bóng nhớ
người gác cổng kết nhạc xu thời
vẫn nhạc nền hai ta yêu nhau từ thuở
đời khó thoát vốn chỗ ngô nghê
Đọc tiếp »

Trần Thế Phong

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2, thành phố Pleiku. Chọn thành phố heo hút, buồn bã nầy để xa tít mù xa PT, và cho em quên tôi. Nhưng thành phố buồn bã đó đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp trong đời quân ngũ và gặp những mất mát đau thương… Thành phố đó tôi gặp lại Trần Văn Toàn, Lê Văn Vinh và Đoàn Thạnh, ba thằng bạn thân thương từ thời thơ ấu, thời học sinh, và đời lính chiến.

Trần Văn Toàn: Trung úy không quân, Phi Đoàn 530 Khu Trục. Tôi học chung với Toàn lớp đệ nhị và đệ nhất. Toàn đẹp trai, hát hay, ăn nói duyên dáng, gốc người Huế, sinh và lớn lên ở Đà Nẵng. Mỗi tối thứ bảy, Toàn thường đến ty thông tin Đà Nẵng hát với biệt hiệu là Duy Hải. Nhiều em rất đẹp mê Toàn với giọng ca truyền cảm. Năm đệ nhất là năm cuối ở Đà Nẵng, tôi và Toàn thường đèo nhau trên chiếc gobel đi phá làng phá xóm. Đậu tú tài 2 Toàn ra Huế học Đại Học, tôi vào Saigon. Biệt tăm nhau trong mấy năm, không ngờ gặp nhau trên thành phố cao nguyên Thành phố Pleiku, thành phố Cao Nguyên nắng bụi mưa bùn. Thành phố của thơ Vũ Hữu Định: Đi giăm phút trở về chốn cũ… Ở đây mỗi chiều quanh năm mùa đông… Thành phố của thơ Kim Tuấn: Buổi chiều ở Pleiku những cây thông già đứng lên cũng bụi mù…Buổi chiều ở Pleiku không có mặt trời, chỉ có mưa bay trên đầu ngọn núi… Tiếng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng, Anh còn tiếng nào để nói yêu em
Đọc tiếp »

Ngô Đình Chương | Yên Nhiên

Tiểu mão, chú mèo tu

Tàn thu chút nắng đọng ven hiên
Run rẩy mèo hoang ghé tọa thiền
Đôi mắt nguyện cầu dường thoát tục
Bốn chân chắp bái vẻ an nhiên
Lão sư tụng niệm ngồi trầm mặc
Tiểu mão chăm nghe giữ lặng yên
Nhẹ bước theo thầy quanh Xóm Núi
Tu hành người, vật bởi cơ duyên
Đọc tiếp »

Bùi Nguyên Phong


Chân dung thiếu nữ
Tranh lụa – Tôn Thất Đào

Ngọt ngào nhan sắc

Em ơi! Em ngồi lại cùng anh.
Để anh tết tóc kia thành muôn nỗi nhớ
Anh sẽ chải hết tháng ngày lầm lỡ.
(Thu muộn màng trên chiếc lá cô đơn)
Tóc mai xinh… Kẹp ba lá bâng khuâng
Trên vầng trán trong… Chiếc cài xao xuyến
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội!
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?
(Bình Ngô Đại Cáo)

Khoảng bằng giờ này năm trước, báo Thanh Niên Online (số ra ngày 7 tháng 11) ái ngại loan tin:

Cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô vừa trút hơi thở cuối cùng vào đêm 5.11 tại Hà Nội trong sự tiếc thương và ngưỡng mộ của hàng triệu người Việt Nam yêu Tổ quốc. Không nhiều người biết, lúc cụ nhắm mắt, nỗi buồn sâu thẳm trong lòng vẫn chưa được khơi thông, thậm chí còn là nỗi buồn nhân đôi!

Chuyện gì mà buồn dữ vậy, Trời?

Tác giả bài báo thượng dẫn, nhà báo Quốc Phong, cho biết:

Năm 1954, sau khi Cách mạng về tiếp quản Thủ đô, hai vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô khi đó đã cho Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mượn ngôi biệt thự tại 34 Hoàng Diệu, Hà Nội có khuôn viên rộng 3.000 m2 trong 2 năm. Lý do tướng Thái muốn mượn là vì nó rất tiện cho công việc. Nhất là lúc này, đất nước vẫn còn chia cắt và cuộc chiến đấu giải phóng đất nước vẫn chưa trọn vẹn. Vị trí này rất tiện làm việc vì nó rất gần Bộ Quốc phòng. Theo như lời hứa của tướng Thái (sau này là đại tướng) thì “khi nào Bắc Nam thống nhất, quân đội sẽ trả anh chị”…
Đọc tiếp »

Trần Vấn Lệ


Thiếu nữ và bông quỳ rừng
dinhcuong

Mười năm. Vẫn đó! Trăng, tròn, khuyết
Dẫu khuyết hay tròn: Một Bóng Trăng!
Chỉ sợ mười năm ai mất bóng
Trần gian mất biệt Một Giai Nhân!

Nhớ lại mười năm mà rụng rời
Đất nước, hai mười năm chia đôi
Đất nước, bốn mười năm tứ tán
Bao nhiêu bia mộ dựng bên trời?
Đọc tiếp »

Haruki Murakami
T.Vấn dịch từ bản tiếng Anh của Philip Gabriel


Haruki Murakami, con cừu đen của văn học Nhật Bản
Photograph: Murdo MacLeod for the Guardian

Giới Thiệu: Nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami, vốn không xa lạ gì với độc giả Việt Nam, và tất nhiên cả thế giới nhưng ngay ở trên quê hương mình, ông không được coi là một tác giả tiêu biểu. Đơn giản vì, theo lời các nhà phê bình văn học Nhật, các tác phẩm của ông không có những gốc rễ từ văn hóa Nhật Bản. Họ cho rằng, tính cách đa văn hóa trong những tác phẩm trở thành best-seller của Murakami khi phát hành ở các quốc gia Tây Âu mang vóc dáng “giống Mỹ nhiều quá”. Murakami có vẻ như không chối cãi điều này. Ông tự nhận “tôi là một con cừu đen trong thế giới văn chương Nhật Bản. Sinh ra ngay sau khi chiến tranh thế giới chấm dứt, chúng tôi trưởng thành trong nền văn hóa Mỹ: nghe nhạc jazz, nhạc phổ thông Mỹ, xem truyền hình Mỹ – một thứ cửa sổ mở ra cho tôi nhìn vào thế giới khác. Nhưng dù vậy, bất kể những điều đó, tôi có phong cách riêng của mình. Thứ phong cách không phải Nhật, không phải Mỹ – mà là phong cách của tôi.”
Đọc tiếp »

Nuit blanche

Posted: 06/12/2018 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn

không có tiếng hát nào lên trời
chỉ có một dúm người
lênh đênh trên đất

(Từ em tiếng hát lên trời, Hoàng Trúc Ly)


Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn

tôi hát vào khoảng không
đêm dạ vũ trắng
chúng mình trì kéo nhau
chiếc khăn san mềm
bàn tay em nguội lạnh
những cặp mắt vô hồn
chân tìm chân du hí
mình đưa nhau mùa thu  Đọc tiếp »

Đỗ Trường


Nhà văn Trương Văn Dân và vợ ông nhà văn Elena Pucillo

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia).
Đọc tiếp »

Huy Uyên

Về lại Tuy-Hòa

Bao lâu rồi Tuy-Hòa không ngủ
Tàu đi ngang, trời đã khuya đêm
phía mấy lộ buồn
phố và mây trôi cùng gió
người gánh hoa rau từ Liên-trà, Phúc-lễ
hình như trời đang nhọ mặt đường .

Vó ngựa sầu bon dặm mù sương
bóng ai bên lề che khuất
ngọn đèn vàng không đủ sáng bên đường
em có nhận ra màu trời thương nhớ
để tím trầm nghiêng ai màu mắt.
Đọc tiếp »

Trang Nguyen

Nha trang là nơi tôi sinh ra và đã sống trong thời thơ ấu, Ninh hòa là nơi tôi đã sống sau ngày vận nước thay đổi, cả một quãng đời niên thiếu và thanh xuân trôi qua trong lam lũ và buồn bả. Lòng tôi luôn nhớ về làng quê nhỏ bé, con đường đất gập gềnh, với hàng tre bến sông, ánh trăng quê… Nhắc đến Ninh hòa tôi thường không ngăn được những dòng nước mắt, nhớ đến những tháng ngày đắng cay, buồn nhiều hơn vui mà tôi đã từng trải.

Tuổi thần tiên

Khi còn bé, trước khi về Ninh hòa sống, tôi rất thích bài hát “tuổi mộng mơ” của Phạm Duy “em ước mơ mơ gì tuổi 12, tuổi 13, em ước mơ em được em được làm tiên nữ…” và nhất là bản nhạc “tuổi thần tiên” của Phạm Duy
Đọc tiếp »

Yên Nhiên

Tô cháo lòng cho Tú Uyên

Chàng thích cháo lòng món điểm tâm
Tim gan phèo phổi để khai tâm
Đũa thần Tố Nữ khua tay múa
Nghi ngút tô bưng hầu tận mâm
Thuôn mướt tay tiên khai vị ngọt
Trà mạn sen thơm trìu mến dâng
Nụ hồng hàm tiếu còn chờ đợi
Phe phẩy quạt này chàng hãy nằm
Đọc tiếp »

Ý Ngôn

Mình tuổi Ngọ mà tánh tình cũng ngựa, cho nên lúc còn trẻ ưa bị quở là “con ngựa bà”.

Người ta thường nói, hễ chơi với nhau thì giống nhau. Điều này có lẽ đúng, nhìn đi nhìn lại bạn bè của mình hầu hết đều có bổn mạng con “ngựa”.

Trong số đám bạn ấy mình chơi thân nhất với con Hằng. Một phần mình với nó có bà con. Chẳng biết mối liên hệ dây mơ rễ má như thế nào, đại khái, mình gọi ba nó bằng bác, mặc dầu ba nó nhỏ tuổi  hơn ba mình.

Nhà hai đứa gần nhau, lại cùng một tuổi, học chung trường. Khi xưa mình với nó từng là một cặp bài trùng. Tuy cùng tuổi nhưng Hằng lớn hơn mình tám tháng. Nó sanh đầu năm, còn mình ra đời lúc gần Tết. Má Hằng có thai vào năm Tỵ, đầu năm Ngọ thì sanh nó. Cho nên bà con lối xóm thường nói, nó tuy là con Ngựa, nhưng ngựa bộ da, còn xương cốt là con rắn.
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc


Lovers
Connie Chadwell

Anh còn nợ em

anh còn nợ một nụ hôn
mai sau không biết có còn bên nhau
trăm năm dẫu có úa nhàu
nụ hôn anh nợ bạc đầu không quên

anh còn nợ những nhớ quên
tình yêu mầu nhiệm hương đêm nồng nàn
làn hơi em thở khẽ khàng
ru anh vào mộng thiên đàng ái ân
Đọc tiếp »

Lý Quang Hoàn

Ngày còn trẻ tôi vướng phải rất nhiều tật xấu, chẳng hạn như hay đi chơi khuya, la cà các quán bar nốc rượu mạnh, tán dóc với bọn bạn vừa trai vừa gái, sau đó cả bọn kéo ra ” Dốc sương mù ” (1)  làm thêm vài chai bia và một cái lẩu cá hú rồi ngất nga ngất ngưỡng tìm đường về nhà. Mấy đứa bạn luôn luôn đòi chở về nhưng tôi lại thích lang thang trên đường khuya một mình.

Dạo ấy ba tôi là người rất nghiêm khắc và ông không thể nào chấp nhận có một đứa con hoang đàng chi địa như tôi. Vì vậy mỗi buổi tối sau bữa cơm ông gầm gừ nhìn tôi và nói, “Nhớ về sớm, còn khuya quá thì xéo mẹ mày đi đâu cho khuất mắt. Tao không có cái loại con trời đánh như mi.” Nhưng ông nói thì nói và tôi đi thì vẫn đi.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Bài ca dao cho mẹ

Ca dao nào đưa con vào giấc ngủ
Mẹ qua cánh đồng vàng rạ rơm phơi
Mùa giáp hạt vẫn sờn manh áo cũ
Gánh hàng rong thơm bếp lửa bên trời.

Mẹ suốt đời như sông trôi lặng lẽ
Vun hạt phù sa bồi đắp cho người
Lên thác xuống ghềnh thân cò không kể
Những phiên chợ chiều bóng đổ đơn côi.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:

Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:

“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Viết trong Ngày Tạ Ơn

Trần gia trang Mùa Tạ Ơn
con gà Tây, nằm, nín lặng
tảng thịt bò, ngồi, dáng nặng
mấy chai rượu, đứng, ngang hàng

đứng.nằm.ngồi, đều, xếp bàn
đặng mừng, đón, Ngày Tạ Ơn
con cháu, lo, tới hết trơn
chỉ im, lắng, cậu Hai Trí!
Đọc tiếp »

Viên Dung

Đất thua buồn chả vầng ô

ở đó nhiều nỗi đắng cay
không lâu chợt hiểu chẳng may đổi đời

ở đó hất hủi đời tôi
buồn đi. em ở, tiếc thời thảnh thơi
em hạt đất, mắc theo thời
bận bịu, không thấy mặt trời rong chơi
Đọc tiếp »

Phan Ni Tấn

Chú Bảy Khìa và cô Hai Hên là dân kỳ cựu của Xóm Chòi từ thời cất chòi lập xóm. Hồi trào Tây, doi đất nhô ra bên Thủ Thiêm nhỏ như cái lỗ mũi, lèo tèo vài chục căn chòi gọi là Xóm Chòi; hiền hòa vậy, yên ổn vậy, rốt cuộc lại mang một số phận bi thảm. Đêm Tây đánh Việt Minh, Xóm Chòi bị thiêu rụi hoàn toàn, dân lành già trẻ lớn nhỏ gì đều bị đạn ăn, lửa đốt chết sạch. Đêm hôm khuya khoắt, Việt Minh bị Tây phục kích gần trại Thủy, tổn thất nặng nề, số chết, số bị thương, bị bắt, số còn lại chạy thoát xuống Xóm Chòi đốt nhà, lùa dân làm bia đỡ đạn, Tây rượt theo thấy bóng người chạy lúp xúp dưới bãi là nã đạn liên hồi kỳ trận. Đêm ác nghiệt đó, gia đình chú Bảy Khìa và cô Hai Hên không có mặt ở Xóm Chòi nên sống sót. Âu cũng là số trời.
Đọc tiếp »

NP phan

Vẫn còn đâu đó

vẫn còn đó những sớm mai
khi ta ngồi đợi đêm dài phân ly
câu kinh vô tự sầu bi
cuối vườn hoa vẫn nhu mì đó thôi

vẫn còn đâu đó em ơi
chút hoang vắng, chút ngậm ngùi mênh mông
xin về nói với dòng sông
cứ xuôi về phía bềnh bồng, phiêu linh
Đọc tiếp »

Nguyễn Hiền

Nơi này. một ngày em nói
Chiều ở đây sao buồn quá
Đến bếp lửa cũng biết thở dài

Nơi này. một ngày tôi tiễn em
Lặng lẽ
Con chó già ngơ ngác đứng trông theo
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Trong nỗ lực xóa bỏ ký ức tập thể về sự kiện này, người ta đã không chỉ đục bia, mà còn đục cả thơ… một hành vi không chỉ xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ mà còn đớn hèn và nhục nhã về chính trị. (Nguyễn Anh Tuấn)

Ngày 11 tháng 11 năm 2018, báo Nhân Dân trang trọng loan tin: “Lễ kỷ niệm 100 năm ngày ký Hiệp ước đình chiến kết thúc cuộc chiến tàn khốc trong lịch sử nhân loại, đã diễn ra tại Khải Hoàn Môn trên đại lộ Champs Elysée ở trung tâm thủ đô Paris. Tham dự sự kiện này có 72 nguyên thủ và lãnh đạo quốc gia.”


Ảnh: thenational

Tui lấy kính lúp xăm soi hoài nhưng không thấy mặt mũi của “lãnh đạo quốc gia” Việt Nam đâu ráo trọi. “Đại diện của dân tộc” này cũng khỏi có luôn, theo như lời phàn nàn của nhà báo Lưu Trọng Văn:
Đọc tiếp »

Nhiều tác giả
Phan Tấn Hải chuyển ngữ

Chúng ta đang bước vào tháng cuối cùng của năm. Ngày đầu tháng 12 đã được Liên Hiệp Quốc chọn là “Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS”… Biểu tượng của ngày 1/12 hàng năm trong ý nghĩa này là Dải băng đỏ — biểu tượng toàn cầu cho tình đoàn kết với những người nhiễm HIV và những người bệnh AIDS. Tên chính thức ngày này là: World AIDS Day.

Đó là một hiểm họa của nhân loại. Ban đầu là tình dục không an toàn, và sau đó là lây bệnh. Đã có lúc người ta lo sợ nhân loại sẽ bị xóa sổ vì AIDS, vì những năm đầu bùng phát, không có thuốc gì ngăn cản nổi lây nhiễm HIV, một hội chứng dẫn tới AIDS. Tính từ năm 1981 tới 2007, bệnh AIDS đã giết chết hơn 25 triệu người, và tới năm 2007 ước tính có khoảng 33,2 triệu người trên khắp thế giới bị nhiễm HIV, làm cho HIV/AIDS trở thành một trong các dịch bệnh phá hoại nhất trong lịch sử. Mặc dù gần đây, việc điều trị và phòng chống HIV đã được cải thiện ở nhiều vùng trên thế giới, nhưng chỉ riêng năm 2007, đã có khoảng 2 triệu người bị chết vì bệnh AIDS, trong đó có khoảng 270.000 trẻ em.

Thống kê gần nhất là năm 2016, cho thấy 36.7 triệu người đang sống với HIV và kết quả là 1 triệu người chết. Nghĩa là, HIV/AIDS đồng nghĩa với Tử Thần.

Sau đây là một số bài thơ cho Ngày HIV/AIDS từ nhiều thi sĩ quốc tế.
Đọc tiếp »

Viet Thanh Nguyen
Lê Tùng Châu chuyển ngữ và thêm chú thích

Xa hơn về mạn bắc đường Tự Do là một hộp đêm, nơi tôi từng nhiều đêm nhảy cha-cha-cha với nhiều cô nàng mặc mini jupe với những bước nhảy phá cách tân kỳ. Đây là con phố mà xưa kia người Pháp hống hách đã một thời đóng đô với những quý bà lắm của, theo sau là những người Mỹ thất cơ lỡ vận tung hô họ trong những quán bar phóng đãng như ở San Francisco, New York, và Tennessee, tên họ được ghi lên bóng đèn neon, còn dàn máy hát tự động thì luôn chạy dòng nhạc đồng quê. Sau một đêm trác táng những thân hình mang mặc cảm tội lỗi lảo đảo ngả nghiêng lần mò về mạn bắc đến Vương cung Thánh đường gạch đỏ ở cuối đường Tự Do, là nơi ông Tướng đang dẫn dắt chúng tôi đi ra đường Hai Bà Trưng.
Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử


Rồng bay
tranh bằng gạo rang của Hồ Sĩ Nghĩa

Tôi sinh ra từ miền đất Phương Nam
Thẳng cánh cò bay một thời mở cõi.
Ngàn mây vân du
Ngàn mây vẻ lối,
Sông nước muôn trùng, bát ngát bóng chiều lam.
Cảm thức quanh tôi
Đất trời thân thiết
Tim máu ông cha từ thuở xa xăm.
Đọc tiếp »

Phạm Nga

1.
Trước ngày 30-4, không ai có thể tranh cải về chuyện bà Tư cắt giác là Phât tử nhiệt tình nhất, công quả nhiều nhất cho ngôi chùa tại vùng Thắng Nhứt này. Sớm hôm bà Tư tận tụy tham gia mọi hoạt động của nhà chùa, từ cúng kiếng, hành lễ, tiếp phẩm cho nhà trai, đến việc chăm sóc hoa kiểng, sửa chữa điện, nước…

Đúng ra thì xa xưa hơn nữa, dân cái xóm phố bên này và xóm lưới bên kia con đường quốc lộ đều mang ơn bà Tư cắt giác nhiều lắm. Bà gốc người Bắc, tuổi đã ngũ tuần, khá đẫy đà, nước da ngâm ngâm, bước đi nhanh nhẹn. Bà góa chồng, không con cái, làm nghề cạo gió, giác hơi nhưng còn biết và giỏi nhiều nghề khác. Gặp khi tối lửa tắt đèn, có nguời bị trúng gió, ngất xỉu hay rối rắm, lúng túng hơn là đau đẻ thì đã có ngay bà Tư. Bà mụ vườn này cũng rất mát tay khi chỉ vẽ, chữa trị những bịnh lặt vặt như hóc xương, trật khớp, đau bụng… Bà cũng sẵn sàng cho mượn những món tiền nhỏ khi bà con ngặt nghèo hay khuyên bảo, hòa giải những lục đục trong gia đình người này, người khác.
Đọc tiếp »

Bùi Nguyên Phong

Thanksgiving hờ hững

Ta nợ nước Mỹ lời cám ơn.
Ta nợ quê hương lời tạ lỗi.
Ta nợ Jesus đời sám hối
Nợ A Di Đà kiếp phù sinh

Ta nợ biển lời thề.
Nợ em chữ tình.
Nợ bạn bè chữ nghĩa
Nợ mẹ cha chín chữ cù lao.
Đọc tiếp »

Lê Phú Khải


Nhà thơ Nguyễn Duy

Ca dao là những viên ngọc lung linh, trong suốt, lấp lánh trên bầu trời văn hóa của dân tộc. Tưởng chừng không ai có thể làm cho nó đẹp hơn, hay hơn được nữa. Thử nghĩ, ai có thể gọt dũa thêm, trau chuốt hơn những câu ca dao như thế này:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Vậy mà thật bất ngờ cho tất cả những người Việt trong nước và trên toàn thế giới phải sững sờ, phải lặng người đau đớn khi đọc bài thơ “Cướp” của Nguyễn Duy:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan (ca dao)
Cướp xưa băng nhóm làng nhàng
Cướp nay có đảng có đoàn hẳn hoi
Có con dấu đóng đỏ tươi
Có còng có súng dùi cui nhà tù

Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Thanh

Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến
Đám sương mù tàn tạ mảnh chinh y

(TNH)

Xót thay,
Những Tấm Thẻ Bài Lưu Lạc
Cuộc chiến đã tàn
Xương cốt dần tan…
Song,
Những Tấm Thẻ Bài chưa an chỗ nghỉ
Cuộc chiến đã qua gần nửa thế kỷ
Vậy mà,
Những vong linh Tử Sĩ hãy còn dật dờ…
Thảm thay!
Đọc tiếp »

Võ Tá Hân

Thơ: Cao Nguyên; Nhạc: Võ Tá Hân; Hòa âm: Quang Đạt; Tiếng hát: Diệu Hiền
ban_ky_am

Nguồn: Nhà thơ Cao Nguyên gửi nhạc và âm bản mp3

Hồ Đình Nghiêm


Tranh lụa của Đinh Trường Giang

Ở đâu đó trong Nam, thầy Hoặc được mời ra phụ trách giảng dạy môn thẩm mỹ học cùng lịch sử mỹ thuật. Dáng cao gầy, tóc để dài, thầy hút pipe, khói thuốc số 79 thơm ngọt cứ vấn vương mãi trì hoãn, không tan loãng vội. Ít ra thì tiên khởi, đó là nét khác lạ có nơi người thầy, chút phong cách lôi cuốn mang theo ra vùng địa đầu giới tuyến. Ngày đầu thầy “thõng tay vào lớp”: Công việc của tôi là truyền đạt lại những gì tôi thu thập, kiến thức, sự hiểu biết; nhưng phút gặp gỡ ban sơ này, tôi muốn đón nghe các anh chị kể chuyện, bất kể chuyện gì. Mưa nắng, biến động, lề thói, văn hoá ẩm thực, thành kiến, dị đoan… Tôi ở xa, chỉ mường tượng ra một chân dung mang nhiều tính thêu dệt. Và thú thật là tôi thấy thành phố của các anh chị rất đẹp, nhưng tôi chẳng mấy thích nét đẹp ấy. Cái tôi, hoặc sự cảm nhận đầy chủ quan là điều nên tránh. Tôi nhại một câu nói nhiều người ca tụng, đại khái rằng tình yêu là khi hai kẻ cùng nhìn về một hướng. Tôi không thích thứ định nghĩa này. Chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi, thế nào là thẩm mỹ học?
Đọc tiếp »

Hợp âm 3 | Như

Posted: 30/11/2018 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn


Từ trái: Cao Vị Khanh, Hoáng Xuân Sơn và Hồ Đình Nghiêm

Hợp âm 3

ngã ba
là ngã ba nào
hàng xanh đã luỵ
hàng rào đã thưa
chừ thì
xấp xỉ ngày xưa
bọn mình 3 đứa
già nua thiệt rồi
thôi
cứ nghĩ lungmột hồi
biết đâu hàng họ
còn rơi rụng
về
Đọc tiếp »

Vết tranh xương máu

Posted: 30/11/2018 in Hoa Nguyên, Thơ

Hoa Nguyên

Về Ô Lâm nắng dãi đầu
Những đoàn quân pháo kéo về đâu
Lưng chừng mây gió hang Tức Chụp
Mịt mờ cát bụi tuyến giang đầu

Tôi đến rồi đi như khách lạ
Những con đường mìn, ghồ ghề sỏi đá..
quanh năm rừng núi, sình lầy..
Có mây giăng xám chiều biên giới
Đọc tiếp »

Tuấn Khanh

Cảm giác bất lực nhất thời trước nỗi đau của người khác, là một cảm giác ghê sợ và xoáy nhói vào trong suy nghĩ không thôi. Câu chuyện của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức mới đây, về việc ông bị ngộ độc trong nhà tù, là một ví dụ.

Theo lời kể, gia đình của ông Thức choáng váng khi nghe ông mô tả về việc ông có biểu hiện ngộ độc, nhưng được chữa trị sơ sài, thậm chí khi ông Thức muốn áp dụng các biện pháp muốn tự bảo vệ mình như chọn ăn mì gói và đồ đóng kín sẵn, thì cai tù phản ứng lạ thường là nói sẽ không cấp nước sôi.

Điềm tĩnh và thậm chí có phần ngạo nghễ, ông Thức nói lại rằng “vậy thì ăn mì sống cũng được”.
Đọc tiếp »

Ráp ráp…

Posted: 29/11/2018 in Hồ Đình Nghiêm, Thơ

Hồ Đình Nghiêm
thơ việt dã tiếp sức của Cao Vị Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư.


Từ trái: Cao Vị Khanh, Hoáng Xuân Sơn và Hồ Đình Nghiêm

Ly cầm chưa ấm ngón tay
Bồ đào đã đỏ như say tiếng cười
Rượu mời không ngọt cũng bùi
Xẻ nhau chút xíu nụ đời gần… phai.

Ước gì đủ mặt chiều nay
Cụng ly bốn góc, không say không về!
Đọc tiếp »

Nguyên Lạc

Bao năm không về quê cũ
Nhớ xanh lúa trổ đòng đòng
Biếc chiều vạc mờ khói phủ
Kêu chiều chim vịt buồn mong!

Cố hương trong hồn vẫn mãi
Chiều theo con nước lớn ròng
Hoa trôi một dòng tím thẫm
Thương ơi tình đó nhói lòng!
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân

Mắt bão

tôi theo nước. đổ. về lòng phố
trời đưa mây. xóa. dấu chân đêm
gió réo hồn linh. cây nức nở
về. trăm cây số. gọi tên em.

Sài Gòn trói ngược. sinh lực tôi
gặp nhau trong mắt bão. chơi vơi
khóc tôi. em khóc bằng tiếng sấm
rền vang từ lúc lửa xé trời.
Đọc tiếp »

Võ Kỳ Điền

Tôi nhớ có lần thi sĩ Borges xứ Argentina, Nam Bán Cầu viết câu thơ hay: “Tôi sanh ra ở xứ lạnh, để sưởi ấm đôi bàn tay, nên tôi làm thơ.” Tứ thơ đẹp lung linh khiến người đọc giật mình nên tôi mạo muội bắt chước ý nghĩ đó – mình cũng hiện ở xứ lạnh nè, ngó qua ngó lại thì sự nghiệp công danh không có gì hết, trơ trọi một thân già, những khi trời đông lạnh, tuyết bay phơi phới trắng xóa đầy trời, thì tại sao không mượn câu thơ để gầy lò sưởi ấm. Và hôm nay tôi mượn bài Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch, một thi sĩ nổi tiếng thời Trung Đường, vì bài nầy cứ mỗi lần đọc là mỗi lần thú vị, thâm trầm.

TIẾT PHỤ NGÂM
Trương Tịch (766-827 đời Đường)

Quân tri thiếp hữu phu
Tặng thiếp song minh châu,
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Hận bất tương phùng vị giá thì.
Đọc tiếp »