Hoàng Xuân Sơn

ai noái chi mược ai
thơ tui mần vẫn có
chút thù tạc lai rai
với bạn bè thân hữu
cùng chương sự dài dài

bạn mền mới khỏi bệnh
răng không tặng một bông
hồng hương lai láng tỏa
ngát thơm vị đồng lần
Đọc tiếp »

Nguyễn T. Long


Họa sĩ Albert Namatjira (1902-1959)

Albert Namatjira không hề vẽ theo truyền thống Thổ dân Úc như vẽ trên đá hay trên vỏ cây… mà cũng chẳng theo phong cách vẽ theo dấu chấm / dot painting (1) như tổ tiên ông đã làm trên đất nước này từ 50,000 năm trước. Ông vẽ mầu nước, theo hội hoạ Tây phương kiểu hiện thực với nhiều chi tiết của vùng outback là vùng nội địa hoang vu tiếp cận với sa mạc, rất xa lạ với quần chúng Úc đương thời thường sống trong các thành phố lớn.

Albert Namatjira thuộc bộ lạc Aranda vùng phiá Tây (2) của rặng núi MacDonnell ở Trung thổ Australia. Là người tiên phong trong nghệ thuật Thổ dân hiện đại, ông là người nổi tiếng nhất trong thế hệ đó. Sinh ra với tên Elea và từ 1905 theo gia đình vào sống trong Trung tâm truyền giáo Tin lành Hermannsburg Lutheran (3) cạnh thành phố Alice Springs giữa nước Úc. Sau lễ rửa tội với tên mới, Albert Namatjira tỏ ra có năng khiếu về nghệ thuật từ nhỏ nhưng phải đến 1936 (khi 34 tuổi), dưới sự hướng dẫn của Rex Battarbee, một hoạ sĩ mầu nước, ông mới trở thành hoạ sĩ chuyên nghiệp.
Đọc tiếp »

Trần Vấn Lệ

Thiếu nữ áo trắng khăn quàng xanh
Thiếu nữ áo trắng khăn quàng xanh
Thái Tuấn

Nói với Bạch Hường

Chưa em ạ, chưa mùa Thu em ạ
Vẫn đang là mùa Hạ, tháng Năm!
Có những cơn mưa nhỏ nhẹ âm thầm
như em bước khẽ khàng trong giấc mộng!

Chưa mùa Thu nên lá còn xanh bóng
Lá như em tóc mượt nhung mềm
Anh muốn cầm muốn nắm tay em
Anh muốn được hôn em từng sợi tóc…
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Đêm Dương Đông

Sóng thì thầm ngỡ lời em hát
Bản tình ca muôn thuở không lìa
Em có thấy hai vì sao lạc
Biết ai còn thao thức đêm khuya.

Đêm phố biển ngọn đèn vẫn đợi
Soi lòng mình tấm tấm giọt mưa
Đường uốn quanh em về Nam Đảo
Nghiêng bóng dừa nghe kể chuyện xưa.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Hắn đè vợ tôi ra đòi xeo-phì. Áp má xong lại đòi hun miếng. Hắn có hai lý do chính đáng: Một, mới bóc tem cái iPhone X. Hai, mai đã là ngày Mẹ. Lý do không chính đáng khác là: Để con đăng lên phây, tỏ bày chút tâm trạng.

Tôi nghĩ bụng: Có thương thì để trong ruột chơ việc chi phải rình rang “bày hàng” giữa thế giới ảo rứa bây? Vợ tôi nói: Ngày xưa khi chưa đẻ mi, muốn hôn hít bậy bạ với ba mi, bốn mắt phải nhìn trước ngó sau coi thử có ai dòm lén không, tốt nhứt là tìm nơi vắng vẻ; dại khờ mà, mô có khôn lanh tìm tới chốn lao xao.
Đọc tiếp »

Nguyễn Hiền

Hôm qua chim khách kêu đầu ngõ
Ý báo hôm nay có khách đến nhà
Tin. Ta mới bày ra chút rượu
Nhâm nhi. Đợi người ngàn dặm xa

Người quê chỉ có một tấm lòng
Trời quê lặng lẽ mình ta ngóng
Từ sáng mơ đến tối mịt mùng
Người đâu. Người đâu sao không thấy?
Đọc tiếp »

Du Tử Lê

Trường phái Siêu thực xuất hiện trong sinh hoạt thi ca và hội họa, đã có hàng trăm năm trước. Nó khởi đầu từ thủ đô Paris, Pháp quốc. Tới nay, trong Bách Khoa Toàn Thư, Wikipedia – Mở vẫn còn ghi nhận sự thành hình của trường phái này:

“Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Theo chủ trương, khuynh hướng nầy nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội, thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên, không bị gò bó bởi lý trí, lôgic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo. Những sáng tác phẩm của những nghệ sĩ Siêu thực ghi chép tất cả những trạng thái tâm lý luôn luôn chuyển biến trong tiềm thức, không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai.”
Đọc tiếp »

Huỳnh Minh Lệ


Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ

Hề

những tên hề mạt hạng
“hoa sữa nở tháng năm”
trời nóng như chảo lửa
nước mắt trong hờn căm

những tên hề đá cá
ngồi chiểm chệ vặt lông
dân khổ hơn con chó
thua con vịt chạy đồng
Đọc tiếp »

Phạm Hoàng Hải

Bàn bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng kiềng bằng bạc lủng lẳng.

Suốt đến gần nửa tiếng đồng hồ chỉ thấy có một anh chàng nói, khi thì giận dữ khi thì nghẹn ngào, có lúc lại đắm chìm trong ưu tư như bị men rượu nhấn chìm. Can rượu to trên bàn đã vơi quá nửa, bỗng hai người đàn ông ôm chầm lấy nhau, nức lên rưng rức. Cái bàn ọp ẹp chao nghiêng làm hai bát rượu đổ tóe ra sàn.
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân

Giấc mơ Điện Thọ

Sáng ra hồ chợt nhớ Điện Hồng
Mây xanh bay vòm trời mênh mông
Anh mơ thấy hồn thiêng sông núi
Lững lờ trên tận đỉnh hư không.

Ôi, vương quốc Chăm Pa còn lại
Nét Huyền Trân lồng lộng dáng em
Dáng em ủ dột trời Điện Thọ
Khi bước lên xe về cõi riêng.
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà trong lòng không xúc động thì không còn phải là người cộng sản nữa. (C.K.N. 2000)

Tôi “nhặt” được câu danh ngôn (thượng dẫn) trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II, của Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có điều đáng tiếc là tác giả quên ghi rõ là đồng chí TBT nào đã phát biểu một câu nói “đắt giá” tới cỡ đó. Mãi đến khi cùng cụng ly với tác giả ở California (ông chơi một ly sinh tố to đùng, ngó mà ớn chè đậu) tôi mới có dịp nêu thắc mắc, và nhận được câu trả lời hóm hỉnh: “Thì ông TBT nào mà chả nói thế.”

Ah! Thì ra thế. Tuy thế, mọi người đều biết rằng mấy ổng nói vậy thôi chớ hổng phải vậy đâu. Bởi vậy nên những phụ nữ đẩy xe bò hay xe rác lềnh khênh, khắp mọi nẻo đường, từ hơn hai phần ba thế kỷ qua mà chả thấy có đồng chí nào xúc động (hay xúc cảm) gì ráo trọi. Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam chỉ mang lại một thay đổi duy nhất cho giới người này là họ được đổi tên từ “phu quét đường” thành “công nhân vệ sinh đường phố” thôi.
Đọc tiếp »

70 năm

Posted: 28/05/2019 in Chu Vương Miện, Thơ

Chu Vương Miện

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
chiến khu thu lúa chú khiêng rồi
kháng chiến nhiều năm càng khiến chán
chính phủ thôi rồi chú phỉnh tôi?

(bài thơ bốn câu có xuất xứ từ Liên Khu 5)

phỉnh đều đều và phỉnh dài dài
dân nhà quê nhìn mãi chiếc vỏ chai
hết vỏ chai trắng qua vỏ chai đỏ
hết hũ rượu tròn lại hũ dài?
hết nhìn rượu lại quay qua gà
hết gà gô rồi lại gà phú lang sa
gà giò gà thiến thêm gà đá
gà tàu gà ác với gà ta?
Đọc tiếp »

Đỗ Trường

Mùa đông năm nay, châu Âu không có nhiều tuyết rơi, và những cơn gió lạnh thấu hồn người. Song cái rét cứ dùng dằng, dai dẳng. Gần hết tháng 4 rồi, dường như cái lạnh còn ủ ở đâu đó. Mặt trời đã lấp ló, vậy mà sân ga Leipzig vẫn còn vắng bóng người. Và bất chợt có những cơn gió rít lên từng hồi, như gió bấc nơi quê nhà vậy. Khi tôi đến, tàu Leipzig đi Nürnberg, München đã chuẩn bị rời bến. Nhảy vội lên, và tôi đi ngược về phía đầu tàu. Đến toa Bistro, tôi đứng lại, định mua ly cafe. Bất chợt có tiếng khẽ gọi, và hỏi: Trường! Đỗ Trường phải không? Tôi giật mình quay lại, thấy đôi vợ chồng già Việt – Đức ngồi ở bàn ăn, bên cửa sổ, với khuôn mặt lạ hoắc. Tôi gật đầu cười cười, nhưng mặt nghệt ra. Người đàn bà đứng dậy, đi về phía tôi: Đúng Đỗ Trường rồi, em không nhận ra chị thật sao? Tôi nhíu mắt, lặng yên… và lắc đầu. Chị vồn vã, nói một thôi một hồi: Giang, Vũ Lê Giang, bạn (nhà văn) Dương Thu Hương, chị của Dương Hoài Nam… Thời Đông Đức, các em đã từng đến thăm chị ở  đội may 500 trên đồi…
Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử

Ta dạo mãi một cung đàn chưa dứt
Nên ta còn theo miết nhịp thời gian
Phương mây trắng vẫn thênh thang đếm bước
Dù biết mai kia sẽ chuyển cung đàn.

Ta vẫn biết đường chiều hoang dấu cũ
Nên có loài thú dữ thả rong chơi
Ta vẫn biết giữa nghìn trùng mưa lũ
Nên gió mây cuồn nộ thoáng đen trời.
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh Trinh

Không hiểu sao, thơ Hà Thúc Sinh đối với riêng tôi có sự cộng hưởng kỳ lạ. Khi đọc những bài thơ của ông, tôi thấy hình như có điều gì giông giống với suy tư của mình và gợi cho tôi những cảm giác của giây phút sống thực song song với những thi ảnh và thi tứ của một người coi thi ca như một lẽ sống trên đời. Ðọc Ngàn Lời Thơ, tôi thấy được những dặm trường hành của thơ ông, từ những tập thơ viết thời gian gần đây đến những bài thơ viết thuở xa xưa, là phản ảnh lại một cuộc sống mà những thăng trầm đã còn hằn dấu vết. Thơ hào sảng khi tuổi trẻ chiến tranh, bây giờ ở xứ người “cay chua” với thời thế và “mặn ngọt” với kỷ niệm.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao
Thơ, kể chuyện đời thường

bánh trái thường hằng ăn thừa mứa
thịt cá thường hăng gắp đã bưa
đèn cầy thất thập vầy thêm lửa
thổi phù một cái giạt phù vân

phù vân phiêu hốt chưa chen lấn
bởi còn hơi thổi tắt ngọn đèn
là vẫn sung chưa đòi tấp bến
[vỗ tay vỗ tay mừng sinh nhật]
Đọc tiếp »

Lưu Na

Chiều trên Phá Tam Giang, đã chiều.
Ánh lửa nào nháng qua tim, anh vụt quên
Ngoài khơi đen đâu là Trường Sa đảo
Anh phải về trước lúc đêm tàn…
Dập dềnh chếnh choáng là mặt nước
Đảo côi đón bước
Anh ôm đảo gầy xem lại khúc phim Tráng Sĩ
Vó ngựa nâu tung bạt cánh đồng xanh
Rượt đuổi con tàu gió  Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Bạn còn nhớ Truyện Kiều của Nguyễn Du không? 3254 câu lục bát khởi đi khúc đoạn trường bằng vào cuộc dạo chơi của ba chị em trong tiết tháng ba, Thanh Minh là dịp lễ tảo mộ, xúi gặp phải nấm mồ lạnh tanh của Đạm Tiên không nhang khói, thế một điềm báo trước về kiếp hồng nhan, vận vào nhân vật chính: Thuý Kiều.

Sè sè nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Cỏ là cỏ. Nguyên trạng, mọc thấp lè tè, ngứa ngáy, tràn lan (xanh tận chân trời), không mắc mớ gì tới đám cỏ mịn màng kín đáo nằm trong hai câu của Bùi Giáng (1926-1988):

Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?

Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc

Viết trong ngày của me

12/5/2019

Mẹ đi từ cõi muôn trùng
Cỏ vàng in dấu đau cùng tháng năm
Đành rằng dẫu có trăm năm
Mẹ còn ấp ủ thăng trầm đời con

À ơi cây ngã trên non
Chim kêu trên núi mẹ còn mãi đây
Bàn tay xưa mẹ hao gầy
Vẫn còn in dấu mệt nhoài lặng câm
Đọc tiếp »

Mông lung trưa tháng 5

Posted: 27/05/2019 in Thy An, Thơ

Thy An

ngồi quán cốc bên đường
húp sùm sụp tô phở thiếu ngò gai
nhai miếng thịt bò còn tái đỏ
bỗng ngộ câu nói có thực mới vực được đạo
thấy con mắt thiền sư trong tô nước lèo
đang gật gù nheo mắt nở nụ cười đồng lõa
buổi trưa lành lạnh
xong tô phở kêu nhanh ly cà-phê cũng rẻ tiền
uống nhâm nhi nhưng không ngồi lâu
nhìn đám trẻ chung quanh ồn ào
bàn chuyện biển trời và thi cử
thoang thoáng dậy nỗi buồn
cánh cửa quá khứ kêu leng keng
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Mỗi kỳ đại hội Đảng là mỗi kỳ nhân dân mở lòng của mình để cùng với ý Đảng tạo ra những đột phá mới cho đất nước. (Tiến sỹ Đinh Đức Sinh)

Bởi tui ít học, ngại đọc, chỉ chuyên hóng hớt và thu lượm thông tin quanh bàn rượu nên kiến thức tuy rất bao la nhưng độ khả tín (cũng như khả xác) không có gì bảo đảm. Độ nhậu vừa rồi, một ông bạn đồng ẩm xác quyết rằng vì khí hậu quanh năm nóng nực nên phần lớn những dân tộc ở Á Châu đều lười biếng và chậm tiến. Họ lừ nhừ cả ngày, hổng lo làm lụng gì cả, và cũng chả có phát kiến nào ráo trọi.

Nghe cũng có lý. Bằng chứng hiển nhiên là dân Việt mùa Đông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn. Và khi có thức ăn, đôi lúc, cũng không đủ muối nêm cho đặm miệng nữa:

Mấy ngàn cây số biển xanh
Mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày

Đọc tiếp »

Lê Quang Thông

Mạ tôi con gái Kim Long.
Lấy chồng, lên An Ninh Hạ.
Vào thời nước non khói lửa.
Mười chín, sinh tôi đầu lòng.

Đêm vượt cạn, sợ Tây lùng.
Dưới hầm, lo con khóc lớn.
Liềm cũ, cắt nhau, ít bén.
Cho dùng dằng tình mẹ con.
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân

Cảnh nghèo

nằm nghe cá ruộng đớp mồi
chim kêu đứt quãng giữa trời phong ba
dơi buồn vỗ cánh bay xa
thương bầy chuột nhỏ vừa sa miệng mèo
đò trôi, con sáo khua chèo
sang sông đành bỏ cảnh nghèo quê tôi.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm


Từ trái: Tô Thùy yên, Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

Thắp Tạ là tập thơ thứ hai của thi sĩ Tô Thuỳ Yên phát hành vào năm 2004.

mây bay bay như những vẫy biệt…
nàng đứng cho tàn như một nén nhang.

Với tôi, người đại diện cho hội hoạ: Hoạ sĩ Đinh Cường. Đại diện cho thi ca: Thi sĩ Tô Thuỳ Yên. May mắn là có khi tôi được ngồi chen vai thích cánh với nhị vị. Và còn buồn đau nào hơn khi, hai người tôi ngưỡng mộ đã lần lượt kẻ trước người sau bỏ tôi ở lại với bóng tối. Mới hưởng lấy hơi ấm từ thân nhiệt toả lan, giờ lạnh ngắt như “Lúc tàn khuya. Nhà hương hoả tối mốc. Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn…

Tranh Đinh Cường nhốt chặt sự thơ mộng, thì thơ Tô Thuỳ Yên mở rộng một cảnh quang hiu quạnh, rờn rợn đến thắt lòng: Đánh mất trong đành đoạn, tang thương trong bể dâu, vắng bặt nụ cười khi nhìn lại. Sau cùng là một lìa xa.

Cái chết tru rân giờ nguyệt tận…
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông,
Mọi người nghe chính mình kêu rú…
Liệu sáng mai còn ai nữa không?

Đọc tiếp »

Nhớ Tô Thùy Yên

Posted: 24/05/2019 in Thơ, Vũ Hoàng Thư

Vũ Hoàng Thư

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)


Tô Thùy Yên
Nguyễn Trọng Khôi

gã du hành về gian nhà cỏ
tàu vượt đồng, ngựa cất cổ cao
trăm năm phế phủ mùa kinh động
ta về, trả lại váng xanh xao
Đọc tiếp »

Đi | Không còn

Posted: 24/05/2019 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn


Tô Thùy Yên
dinhcuong

Đi

Vĩnh biệt anh Tô Thùy Yên

Bài thơ cài trên cửa
Sau cùng đã khuất duy
Những con chữ rơi xuống
Tan theo bóng thầm thì
Đường lớn ôi đường lớn
Ừ thì đi. Rồi đi.
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh An Dân


Nhà thơ Tô Thùy Yên (1938-2019)
Tô Thùy Yên, tên thật Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định trong một gia đình bình thường, đông các em, cha làm chuyên viên phòng thí nghiệm thuộc Viện Pasteur, sau về Bệnh viện Chợ Rẫy, mẹ nội trợ. Học tiểu học ở Gia Định, trung học ở Sài Gòn (trường Petrus Trương Vĩnh Ký và tư thục Les Lauriers), có ghi danh theo học ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ban Văn Chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở. Động viên vào cuối năm 1963, khóa 17 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tại ngũ cho đến ngày 30 – 4 – 1975, chủ yếu trong ngành Chiến Tranh Chính Trị. Cấp bực cuối cùng: Thiếu Tá. Tù Cộng Sản ba lần, tổng cộng 13 năm. Cuối năm 1993, cùng gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ, mấy năm đầu ở Saint Paul, Minnesota, sau dọn về Houston, Texas cho đến nay. Thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ. Đã xuất bản: Thơ Tuyển, ấn bản tại Đức năm 1994, ấn bản tại Mỹ năm 1995; Thắp Tạ, 2004. (Nguyễn Mạnh An Dân)

 
Nguyễn Mạnh An Dân (NMAD): Anh là một tác giả thành danh rất sớm, thường xuyên có thơ văn đăng báo từ khi mới 16, 17 tuổi, và cho đến năm 1975, anh đã gần như liên tục tham dự vào những hoạt động có liên quan đến chữ nghĩa như viết báo văn học, có lúc làm báo văn học, dịch sách văn học Pháp, thậm chí làm cả xuất bản văn học, vậy mà anh lại chẳng cho xuất bản một tác phẩm nào của anh, tại sao vậy?

Tô Thùy Yên (TTY): Phải thú nhận là có rất nhiều lúc bất đắc ý với đời sống, tôi đã tỏ ra không mặn mà cho lắm với chữ nghĩa văn chương dù rằng hồi còn trẻ nhỏ, tôi đã cực kỳ mê đắm văn chương, nung nấu ước vọng sau này trở thành một tác giả giá trị. Tôi thường xuyên trăn trở trong cái ý nghĩ gai góc là văn chương phải chăng cũng chỉ là một trò chơi mà mắt, dối gạt, phù phiếm, vô bổ. Nên đã có mấy lần, đặc biệt hồi mới vào lính, bị đặt trước một tương lai sinh tử chờn rờn, trong mấy năm liền, tôi đã tự ý dứt khoát xa lìa mọi sinh hoạt văn chương chữ nghĩa, đến độ chỉ một hai người bạn thân ở Sài Gòn lúc bấy giờ biết rõ tôi lưu lạc ở nơi nào của đất nước. Những đại họa giáng xuống con người vô phương tránh đỡ, văn chương cùng lắm cũng chỉ là thêm nữa một tiếng kêu đau. Còn nhớ hồi 19, 20 tuổi, tôi đã viết một câu thơ: Anh định ngày rất gần đây, sẽ thôi làm văn nghệ, tôn giáo của những anh hùng bất lực… Vào cái thời còn là ngựa non, dê cỏn, tôi lẫn quẫn với cái ảo tưởng anh hùng đương đầu với cuộc sống. Sau này, trên 60 tuổi, tôi lại viết: Ôi, kinh điển nào chẳng là bia chú đoạn trường: / Nơi đây nhân loại cùng quẫn không yên nghỉ. Nói chung, trước kia cũng như sau này, đối với tôi, văn chương vẫn chỉ là một chứng từ sao lại về sự thất bại của con người trước cuộc sống.
Đọc tiếp »

Ta về

Posted: 23/05/2019 in Tô Thùy Yên, Thơ

Tô Thùy Yên

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
Đọc tiếp »

Trần Thiện Thanh

Thơ: Tô Thùy Yên; Nhạc: Trần Thiện Thanh; Tiếng hát: Thanh Lan & Nhật Trường
ban_ky_am

Nguồn: Hợp Âm Việt

Thụy Khuê


Nhà thơ Tô Thùy Yên
dinhcuong

Hành giả của cô đơn, Tô Thùy Yên đáp chuyến tốc hành “cánh đồng con ngựa chuyến tầu”, năm 56, vào vòng khắc biệt của thời gian, nghiền nát hình hài, đập tan bão tố, giã vụn tâm tư, biến tất cả thành hư vô, trừ đá: Ðá ở lại. Ðá ở lại, trong ánh tàn dư, khiến cho thời gian, đácon người trở thành tương quan tồn tại.

Trên cánh đồng hoang thuần một mầu
Trên cánh đồng hoang dài đến nỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! Cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.
(Cánh Ðồng Con Ngựa Chuyến Tàu, tháng 4-1956)
Đọc tiếp »

Mùa hạn

Posted: 23/05/2019 in Tô Thùy Yên, Thơ

Tô Thùy Yên

Ở đây, địa ngục chín tầng sâu
Cả giống nòi câm lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau

Bước tới, chân không đè đá sắc
Vai trần chín rạn gánh oan khiên
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh Trinh


Nhà thơ Thành Tôn

Năm 2019, ở Quận Cam, tôi đọc một bìa sách của một thời xa xưa:

“Thắp Tình
Thơ Thành Tôn
Ngưỡng Cửa xuất bản
Tác giả trình bày bìa, sắp chữ đạp máy in và đóng
Xong ngày 06. 08. 69”

Có một chút thắc mắc, tôi vỡ lẽ. Ngưỡng Cửa là một nhà xuất bản ở một tỉnh lẻ miền Trung và do một nhà thơ làm chủ, và cũng là làm người in ấn, thực hiện từ a đến z công việc của người thợ in. Bây giờ, sau một nửa thế kỷ, ở hải ngoại, Thành Tôn lại cặm cụi làm công việc in lại, tái chế những cuốn sách quý đã bị hư hao hoặc tuyệt bản vì thời thế vì chủ trương phần thư khánh nho của những người Cộng sản. Nhìn ông ngồi nâng niu từng trang sách cũ, với bàn tay của một nghệ nhân, hoàn thành những tác phẩm nghệ thuật có khi lại đẹp hơn sắc sảo hơn nguyên bản, tôi như thấy được một chân dung tận hiến cho sách vở.
Đọc tiếp »

Hồ Chí Bửu

Xe ôm…

Lâu thật lâu mới gặp thằng bạn cũ
Người ta cân đai áo mão lụa là
Bạn của tôi vẫn bộ đồ quá cũ
Năm tháng miệt mài ôm chiếc honda

Bạn với tôi cùng khóa hai sáu tám
Một chín bảy lăm trên cổ ba bông
Lỡ nạp đơn nhưng không đi phỏng vấn
Từ chối H.O nước mắt ròng ròng
Đọc tiếp »

Trần Vấn Lệ

Hoa Tulip

Ngang qua vườn ai đó
thấy Tulip nở nhiều
tôi nói Hoa Tình Yêu
ai đó cười mỉm mỉm…

Hồn tôi như bị chiếm
hết khoảng không gian vườn
tôi đi băng qua sương
thấy thương mình chi lạ!
Đọc tiếp »

Phạm Nga

Sáng này, nghe tôi than cái cột sống lưng thoái hóa, không thể đi bộ quãng đường xa, anh sui Ngọc Thành chỉ đưa tôi ra trạm xe bus ngay trước nhà để lên Cabramatta uống cà phê. Ngồi cà phê Nhớ cả buổi, anh mới hỏi tôi có thể đi dạo công viên ở… hơi xa một chút được không. “Đi dạo mấy cái công viên ở vùng Cabramatta, Liverpool này thì không có gì lạ nhưng công viên ở Parramatta thì đặc biệt tĩnh lặng. Thú vị lắm, ông đến sẽ ưng ý liền!”, anh Thành diễn giải thêm. Thế là hai bạn già ung dung ngồi tàu điện đi Parramatta. Từ nhà ga ra đường phố, Parramatta thật sầm uất, nhộn nhịp, và đúng như anh Thành ‘dân Cabra.’ nhận xét, cư dân Parramatta hầu hết là gốc Úc, Âu da trắng, rất ít người gốc Việt, nên không ồn ào như ở Cabramatta, đường xá, vỉa hè rất sạch mà hầu như không thấy có góc nào nhếch nhác. Tuy nhiên, hai bạn già dù vẫn không có gì vội vã vẫn không hề rề rà dừng lại nơi nào. Chúng tôi đi một hơi, bình thản rời khỏi các khu phố thương mại và phố hành chính tráng lệ, nguy nga đầy màu sắc để sớm tìm đến mục tiêu hôm nay: công viên Parramatta.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Hồn phượng

Hồn phượng nằm trong thơ
Đỏ dòng sông lưu bút
Ủ tháng năm học trò
Còn tinh khôi nét mực.

Người con gái dễ thương
Tiếng cười như ngọc vỡ
Làn môi hồng yêu đương
Chìm bụi lầm cát lở.
Đọc tiếp »

Phan Tấn Hải

Truyện Thạch Sanh Lý Thông có liên hệ gì với tư tưởng Phật giáo? Nơi đây, chúng ta thử suy nghĩ về chủ đề này, trong dịp Giáo sư Nguyễn Văn Sâm biên dịch, chú giải và ấn hành Truyện Thơ Thạch Sanh Lý Thông.

Truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông được kể qua văn học truyền khẩu nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện truyện thơ cùng tên. Thường được gọi tắt là truyện Thạch Sanh. Do vì xuất sinh từ văn học truyền khẩu, nên có nhiều phiên bản khác nhau.

Riêng về truyện thơ, cũng có ba dị bản khác nhau, tất cả đều bằng thể lục bát. Như thế, ông bà mình đã ưa thích truyện này một cách đặc biệt.
Đọc tiếp »

Lý Thừa Nghiệp

Trăm năm hề gì

Khi mưa là gọi nắng về
Tư mùa tám tiết đề huề bên hiên
Đường mây trắng nghĩa thượng thiền
Trùng dương đánh võng nét huyền thậm thâm
Gối đầu lên ngọn tầm xuân
Lũ ong say mật, trăm năm hề gì.
Đọc tiếp »

Etgar Keret
Thận Nhiên chuyển ngữ từ bản dịch Uterus của Miriam Shlesinger.

Vào sinh nhật lần thứ năm của tôi, người ta phát hiện mẹ tôi bị ung thư, và ông bác sĩ bảo rằng bà phải cắt bỏ tử cung đi. Đó là một ngày sầu thảm. Tất cả chúng tôi leo lên chiếc Subaru của bố đến bệnh viện và chờ cho tới khi ông bác sĩ ra khỏi phòng giải phẫu với đôi mắt đẫm lệ. “Tôi chưa từng thấy cái tử cung nào đẹp như vậy,” ông nói khi đang tháo cái khẩu trang ra. “Tôi cảm thấy mình như một kẻ sát nhân.” Mẹ tôi thật sự có một cái tử cung tuyệt đẹp. Đẹp cho tới nỗi bệnh viện tặng nó cho bảo tàng viện. Và đặc biệt vào ngày thứ Bảy chúng tôi đến đó, cậu tôi chụp hình cả bọn đứng bên nó. Lúc đó bố tôi đã không còn sống trong nước nữa. Ông li dị Mẹ trong cái ngày sau cuộc giải phẩu. “Một phụ nữ mà không có tử cung thì không phải là phụ nữ. Và người đàn ông nào ở với một người phụ nữ không còn là phụ nữ thì chính hắn cũng không phải đàn ông,” ông nói với anh tôi và tôi một giây trước khi ông leo lên máy bay tới Alaska. “Khi nào khôn lớn, các con sẽ hiểu.”
Đọc tiếp »

Nguyễn Hàn Chung

Mi nói vì sao khi chết
không đem xác về Việt Nam
mi nói cho tau hay thử
tau mới biết mi không hờn

Tau muốn đem về lắm chớ
sẽ được nằm gần ông bà
thanh minh tế thu tháng chạp
thế nào cũng có hương hoa
Đọc tiếp »