Chu Vương Miện
Về Nguyễn Khuyến
Thu điếu đóm
thu ẩm thu thực
thu điếu thu đóm
đất nước loạn ly
người chết nơi thành
người chuồn người đi
quan cũng như tốt
cỏi áo cùng quần
chỉ còn thân không
trà trộn với dân
thăng mất
Đọc tiếp »
Chu Vương Miện
Về Nguyễn Khuyến
Thu điếu đóm
thu ẩm thu thực
thu điếu thu đóm
đất nước loạn ly
người chết nơi thành
người chuồn người đi
quan cũng như tốt
cỏi áo cùng quần
chỉ còn thân không
trà trộn với dân
thăng mất
Đọc tiếp »
Nguyễn Minh Nữu
Năm 1972, Nguyễn Quyết Thắng rủ tôi tới 19 Kỳ Đồng, quận 3, nằm đối diện hới xéo về phía trái nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Lúc bấy giờ nơi này đang được sử dụng làm Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Đây là một tòa biệt thự cổ của Pháp, bước vào là một khoảng sân khá rộng, rồi bước phòng khách có thể sinh hoạt chung năm bẩy chục người, trong nữa là ba phòng dùng làm văn phòng, phòng họp và phòng văn thư. Chỗ này là nơi gặp gỡ và sinh hoạt cho sinh viên đang đi du học nước ngoài khi về nước có chỗ tìm đến nhau, làm quen, kết bạn và tham dự các sinh hoạt cùng sinh viên trong nước. Điều hành chung là anh Đỗ Ngọc Yến. Anh Yến là Huynh trưởng của phong trào Du Ca nên đây là nơi các Huynh Trưởng Nhạc Sĩ của Du Ca thường ghé chơi như các anh Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Trần Văn Bùi,và các trưởng trẻ của Du Ca như Đặng Mục Tử, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Công Bằng…
Đọc tiếp »
Trần Huy Sao
mai nữa không Thơ e ngừng thở
giờ còn thở đặng cứ làm Thơ
cuộc lữ vần xoay chừng ngấn đó
hơn thua chi nữa mà ganh nhau
ta vốn khó ưng đời bát nháo
trải nương dâu thương hải tang điền
bèo giạt hoa trôi về chốn lạ
hòa nhập dòng cơm-áo-gạo-tiền
Đọc tiếp »
Nguyễn An Bình
Ai cũng có một tình yêu của mẹ
Tiếng ru hời đẹp tựa cỏi thần tiên
Con bướm trắng mộng mơ thời thơ trẻ
Bay chập chờn trong giấc ngủ bình yên.
Mẹ ươm nắng sớm đồng xanh chim hót
Mẹ che mưa chiều mỗi bước con qua
Lòng của mẹ lục bình theo con nước
Tím suốt mùa dâng hiến cả đời hoa.
Đọc tiếp »
Phạm Đình Trọng
Dân gian ta có câu: Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa để chỉ hạng người ăn chơi thì giỏi, nói năng bẻm mép thì hay nhưng làm thì dở. Quan chức nhà nước cộng sản Việt Nam không phải chỉ làm dở, làm đâu hỏng đấy mà đến lời nói cũng ngô ngọng, ngớ ngẩn. Mở mồm ra nói là bộc lộ một nền tảng văn hóa thấp kém, một nhân cách hèn mọn, một tư cách công dân thiếu vắng.
Với mọi công dân bình thường thì lòng yêu nước luôn thường trực trong ý thức, trong tình cảm. Với lòng yêu nước, một núm cát của đất đai Tổ quốc cũng mang hồn thiêng của cha ông, cũng là hương hỏa thiêng liêng của cha ông để lại và không có gì lớn hơn, hệ trọng hơn là núm cát mang hồn thiêng ông bà tổ tiên, là chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Đọc tiếp »
Hoàng Xuân Sơn
B O T
bót
bót
làm tình khẩn trương
đừng thu tiền
mãi lộ
làm ơnchút
anh hai
Đọc tiếp »
Hồ Đình Nghiêm

Giáo sư đạo văn Nguyễn Đức Tồn
Sau 1975, do hoàn cảnh khiến xui, người dân miền Nam vô tình mà làm giàu thêm bộ sưu tập trong sổ đoạn trường bằng những từ ngữ mới. Một cuốn tự điển hình thành, truyền khẩu với rất nhiều cái mới lạ, trong đó có chữ quen thuộc, mãi nghe: “Chà đồ nhôm”.
Thực thi việc chà đồ nhôm, ta gọi tên bằng chữ “mánh mung”. Chẳng rõ chữ mánh ấy có bà con chi với mánh lới? Do cực khổ quá, tìm đường binh để cầm cự sống qua ngày, gọi là “chạy mánh”. Thành công thì nói “trúng mánh”, mà thất bại mặt hớt hãi nói không ra hơi, y như rằng đã “bể mánh!”.
Riêng chữ chà đồ nhôm, nó chỉ là đảo ngữ, nói lái từ “chôm đồ nhà”. Chôm là chôm chỉa, ăn cắp vặt vãnh những đồ vật xét chẳng mấy cần thiết so với tình cảnh mới. Chà đồ nhôm, xuất thần ở chỗ, đồ nhà mang ra chợ trời bán đa số là thứ liên quan tới kim loại đồng sắt bạc chì… và nhôm. Thành ra tuy là nói lái mà chữ chà đồ nhôm quá đỗi “sát với hiện tình”, ăn với vật thể vừa “giũ áo” một đi không trở lại. Chà riết, thét trong nhà đâm rộng thênh. “Tiền nhà khó như gió vào nhà trống” là do vậy!
Đọc tiếp »
Nguyễn Văn Gia
Chắp tay
lạy khắp mười phương
Cầu xin Trời Đất
xót thương quê nhà
Cùng trong bọc trứng
mà ra
Máu đào nhạt thếch
hơn là người dưng Đọc tiếp »
Ý Ngôn
Mẹ tôi nhỏ hơn cha tôi mười bốn tuổi. Thuở nhỏ, tôi nghĩ khoảng cách ấy quá lớn, quá xa. Giờ đây, nhìn một cô dâu mười tám, chú rể ba mươi hai, tôi thấy không có gì quá đáng.
Nếu đem ra chấm điểm từng món trên gương mặt của mẹ tôi, bà không được một điểm nào cả. Nhưng nhìn chung, bà rất duyên dáng. Bà có nụ cười rất tươi, rất hiền. Đôi mắt có vẻ hơi buồn. Và dáng điệu lúc nào cũng có vẻ buồn buồn. Hình như bà thường chất chứa nỗi buồn. Tích lũy từng nỗi buồn này đến nỗi buồn khác.
Cha tôi làm việc tại Ty Giáo Dục Long An. Mẹ tôi chỉ ở nhà, lo cơm nước và săn sóc con cái. Tôi ra đời lúc tổng thống Ngô Đình Diệm vừa lên nắm chánh quyền. Cha mẹ tôi có năm người con. Anh Luân, chị Hằng, tôi và hai em Minh, Lâm.
Đọc tiếp »
Hoàng Minh Châu
Em ơi về lại ngày xưa
Có mùa Noel cho hai đứa mình than thở
Gió cao nguyên thủa ấy rất mù
Mơ những cây thông và ngôi sao bàng bạc giữa nền trời rất tối
Em ơi nhớ về con đường xuống suối
Mùa trăng
Đọc tiếp »
Song Thao
Những ngày cuối tháng 5 của 43 năm trước, là mùa sách nạn của dân chúng miền Nam. Cộng sản vừa cướp được Sài Gòn đã vội ra lệnh tịch thu tất cả sách báo miền Nam mà họ gọi là “văn hóa đồi trụy và phản động”. Họ huy động từng đoàn thanh niên học sinh, mang xe ba gác đi từng nhà lục soát sách mang đi đốt giữa những bộ mặt hốt hoảng, bất lực pha lẫn ngậm ngùi của chúng ta. Một bài báo của một tác giả vô danh tôi lượm được trên internet truy niệm cho những cuốn sách vô tội bị hỏa thiêu: “Bởi vì sách vở thời ấy, số phận nó như số phận người. Nó cũng phải trốn chạy, chui rúc, ẩn náu. Chúng cũng rơi vào cảnh mồ côi cha mẹ, cảnh lạc đàn, cảnh tan nát, cảnh tan hoang mất còn. Vận người dân miền Nam thế nào, vận chúng như thế. Đứa may trốn thoát. Tôi có đứa cháu trai, hồi đó 6 ,7 tuổi. Khi đi di tản năm 1975, cháu chỉ mang cặp sách của cháu và nhặt một cuốn sách giáo khoa tâm lý học tôi viết thời đó. Sang sau vài năm, cháu đưa lại cho tôi. Kể cũng mừng và cũng buồn cười. Đứa yểu tử thì làm mồi cho cuộc phần thư. Đứa không may làm giấy gói sôi buổi sáng. Đứa bất hạnh làm giấy chùi đít. Đó là cuộc trốn chạy vô tiền khoáng hậu mà những kẻ đi truy lùng chỉ là các trẻ con lên 12, 13 tuổi. Các cháu ngoan bác Hồ. Họ xô những đứa trẻ con vô tội đó ra đường. Chúng quàng khăn đỏ hô hoán, reo hò như trong một vụ đi bắt trộm, hay đi bắt kẻ gian. Chúng lục soát tận tình, chúng đánh trống, chúng hát hò như một cuộc ra quân của một đoàn quân chiến thắng. Gia đình nào cũng sợ hãi cái quang cảnh đó nên kẻ mà phải hy sinh đầu tiên chính là sách vở”.
Đọc tiếp »
Bắc Phong
Thơ phóng tác theo truyện Phật giáo nhân mùa Phật Đản 2562
xưa trong một ngôi chùa
ở lưng chừng triền núi
thị giả nuôi con lừa
để kéo cối xay lúa
nhiệm vụ chỉ có thế
nên lừa sống thảnh thơi
nhưng thấy đời vô vị
mơ xuống xã hội người
Đọc tiếp »
Phan Tấn Hải
Tôi có một vài ký ức về họa sĩ Võ Đình. Gặp nhau thực sự không nhiều, nhưng hình ảnh về anh vẫn khắc sâu trong trí nhớ.
Trong những ngày tôi cư trú ở Virginia, gặp họa sĩ Võ Đình thường là trong một số sự kiện cộng đồng, có khi tại nhà một vài người trong giới văn nghệ — mà thời đó, những năm cuối thập niên 1980s, tôi là một người tuổi nhỏ, so với các bậc tôn túc có dịp quen thân và làm việc chung, như Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhà văn Trương Anh Thụy, nhà bình luận Trương Hồng Sơn (bây giờ là họa sĩ Trương Vũ)…
Không khí văn nghệ thời đó ở Virginia vui lắm: mọi người, cho dù nổi tiếng thế nào đi nữa – thí dụ, giỏi nhiều ngôn ngữ xuất sắc như GS Nguyễn Ngọc Bích và phu nhân (chị Đào Thị Hợi cũng là một giáo sư về ngữ học tại một đại học ở thủ đô Washington DC), vẫn là những hình ảnh gần gũi, dễ thấy, dễ nói chuyện.
Đọc tiếp »
Chu Vương Miện
Về Nguyễn Khuyến
nguyên quán làng Yên Đổ [tục gọi làng Và]
huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam
gia đình khoa bảng đậu tam trường
nhậm chức tổng đốc Sơn Hưng Tuyên
[Sơn Tây – Hưng Yên – Tuyên Quang]
nước nhà lúc bấy giờ nửa trăng nửa đen
nửa Tây nửa ta nửa trắng nửa đen
xuất cũng năm bẩy đường
xử cũng dăm ba nẻo
nhâm mắt kèm nhèm xin từ quan
ngôi kèm trẻ nơi phủ tổng đốc Hoàng
một thứ tù nhân giam lỏng
Đọc tiếp »
Phan Ni Tấn
– Ở Rạch Giá cũng có địa danh Tây Sơn hả nội?
– Có. Hiện nay ở ấp Tây Sơn vẫn còn “nền vua”…
Giữa thập niên 1950, ông nội tôi ở Quy Nhơn dẫn bầu đoàn thê tử vào Sài Gòn lập nghiệp, chọn đất Cầu Kho gần bến Hàm Tử mở trường dạy võ Bình Định. Mười lăm năm sau ông cáo lão hồi hưu, cha tôi kế nghiệp, dời trường về Tân Định, võ sinh ngày càng đông. Tuy vậy tình hình chiến sự giữa hai miền Nam Bắc đang leo thang khốc liệt, cha tôi được lệnh tái ngũ trở về đơn vị cũ ngoài miền Trung. Tôi – 30 tuổi, con một trong gia đình – trở thành chưởng môn đời thứ ba của nhà Nguyễn Võ. Từ ngày trở lại đơn vị cũ ngoài vùng 1 hành quân liên miên cha tôi ít khi trở về thăm nhà. Cho đến mùa hè năm 1972 dược tin cha tôi hy sinh tại đường 9 Nam Lào, ông nội tôi ngã bệnh.
Đọc tiếp »
Nguyễn Minh Phúc
đành thôi giọt nắng cuối trời
loanh quanh chi nữa hỡi đời phù du
xa rồi giấc mộng thiên thu
là khi mắt khép sương mù giăng mây
sao mà yêu quá đời nầy
những đêm tuyệt vọng những ngày tàn phai
vậy mà còn những sớm mai
em mang niềm nhớ chia hai nỗi buồn
Đọc tiếp »
Tưởng Năng Tiến
Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc. (Huỳnh Nhật Tấn)

Nhà thơ Trần Vàng Sao (1942 – 2018)
dinhcuong
Cách đây chưa lâu, hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”
“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, chả may, lại là ác mộng của một người làm thơ khác – cùng thời:
Đọc tiếp »
Như Quỳnh de Prelle
Làm sao để nỗi buồn của tôi
trốn đi đâu đó tôi đem nó
ra trải trên tuyết để nó tan
đi thật nhanh thế là nó chuyển
thành nước đá và đóng băng lại
Khi nắng lên, nỗi buồn có vẻ
tan đi rồi lại rưng rưng khóc
Tôi không biết làm sao cho nỗi
buồn biến mất thế là tôi gửi
vào bông hoa hồng nhung gỗ
giữa mùa đông lạnh giá
nỗi buồn mắc vào chiếc gai lạnh
lẽo và teo dần suốt 90 ngày còn lại
cứ chờ xem sao mùa đông đang bắt đầu
Đọc tiếp »
Trịnh Y Thư
Sau hai tập truyện – Phòng 111 [Tạp chí Văn xuất bản, 2000] và Tập sống [Văn Mới xuất bản, 2009] – nhà văn Đặng Mai Lan gần như ngưng hẳn sáng tác mà chỉ thi thoảng xuất hiện trên văn đàn hải ngoại với một bài viết ngăn ngắn nào đó về thời sự, về một nhân vật trong văn giới hoặc một đề tài chị cảm thấy thích thú. Những bài viết ấy hôm nay tập hợp thành một tuyển văn mà chị đặt cho cái nhan đề tuy bình dị nhưng nhiều ý nghĩa: Người lạ, người quen. Chị nói về tác phẩm này của mình như sau:
Người lạ, người quen là những dấu ấn được nhìn lại từ những đoạn đời. Nhìn lại những thân tình, kỷ niệm với người quen, những rung cảm tác động từ cuộc đời của những người lạ. Là những bài viết về bạn, về người, có cả những người đã khuất…
Đọc tiếp »
Phan Đắc Lữ
Kỷ niệm một năm ngày mất của Pham Ngọc Lư

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư (1946-2017)
Tôi với Phạm Ngọc Lư quen nhau từ năm 2000 qua duyên thơ và đã nhanh chóng kết nhau làm tri âm.
Tết Giáp Thân (2004) anh có gửi tặng tôi tập thơ Đan Tâm dưới dạng bản thảo, được in theo lối thủ công nhưng khá trang nhã, gồm 48 bài thơ vừa là hành (trường thiên độc vật), vừa là thơ 5 chữ, 7 chữ nhưng nhiều nhất lại là thơ lục bát. Trong lá thư gửi kèm, Phạm Ngọc Lư có dặn dò: “Theo tôi, cả tập thơ, bài Biên cương hành là tâm điểm nên mong anh (hoặc sau này những độc giả nào đó) cố gắng đọc cho một bài đó thôi là tôi vui lắm rồi, còn những bài khác chẳng cần đọc cũng được.” Tôi đã đọc rất kỹ, đọc đi đọc lại cả tập thơ nhiều lần và tôi nhận ra rằng lời dặn dò của anh là quá khiêm tốn, bởi cái đã làm nên diện mạo hình hài và linh hồn thơ Phạm Ngọc Lư chính là những bài lục bát, chứ không phải chỉ riêng một Biên cương hành, Cố lý hành.
Đọc tiếp »
Thy An
viên sỏi nhỏ cuộn mình
chìm vào lòng suối uyên nguyên
đem theo buổi chiều mờ nhạt vần thơ
không còn tiếng vỡ của lời nói
khi mặt trời chiếu lên thân thể em
bên con phố đìu hiu
những ngôi nhà hàng gạch rêu xanh
nhạt nhòa sương khói
Đọc tiếp »
Đinh Quang Anh Thái
Đón tôi tại cửa máy bay phi trường Dallas, Texas, đêm Tám Tháng Giêng 1985 là anh Thanh Hùng.
Chưa kịp một lời hỏi thăm nhau sau 10 năm chia tay ở Sài Gòn, anh ôm tôi, òa khóc: “Sáng nay chúng nó bắn Trần Văn Bá rồi chú ơi!”
Tôi lặng người.
Cả đêm hôm đó, hai anh em chỉ nói với nhau về Trần Văn Bá và những kỷ niệm với anh trong mùa Hè anh về Việt Nam trước 1975, tham gia Trại Nối Vòng Tay Lớn do Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại tổ chức.
Trần Văn Bá sinh năm 1945 tại Sa Ðéc. Anh lớn lên với ruộng đồng miền Nam và được un đúc, thừa hưởng tinh thần bất khuất của cha ông. Năm 1966, thân phụ anh, Dân Biểu Trần Văn Văn, bị sát hại. Sau năm 1975, chính báo chí Cộng Sản viết về tổ đặc công nội thành đã ra tay hạ sát vị dân biểu rất có uy tín này.
Đọc tiếp »
Thái Bá Tân
Sao lại là phản động,
Khi chúng tôi, những người
Không rút ruột ngân sách,
Để phè phỡn ăn chơi?
Chúng tôi không cướp đất,
Không đẩy ai ra đường,
Phải ăn mày, làm điếm.
Những cảnh đời đáng thương.
Đọc tiếp »
Hồ Đình Nghiêm

Chân dung đội khăn (1)
Oil on canvas, 14”x18”
dinhcuong
Trần có hai tay, tay nào cũng thuộc loại diệu thủ. Bạn bè thương Trần, lếu láo gọi hắn có ba đầu sáu tay. Trần nghe, chẳng nói gì, chỉ cười lành. Nguyễn bảo, vậy là hàm oan, bởi chàng ta từ khi sang đây tả xung hữu đột đã làm tới bảy nghề khác nhau, thợ đụng thứ thiệt phải nể mặt, cung kính không bằng chào thua.
Trần giỏi việc chợ búa bếp núc, nấu ăn ngon, luôn biết cách sáng tạo thay đổi các món dù nguyên vật liệu vẫn chừng ấy thứ. Tình ngay, với ba năm nai lưng chân phụ bếp trong nhà hàng của Pháp, gặp đứa cục vắt thành hòn thì chẳng thể có hoa tay như Trần được. Phan đơm mộng quấy: Hàng tuần ông đều mua vé số, trời kêu một tiếng thì ông mở ngay cái quán ăn, kêu Trần tới làm sếp để hét ra lửa chơi. Trần cười hiền, ép dầu ép mỡ sao nỡ ép tôi, quan hoài cho nhau kiểu đó hèn gì thần tài chưa gõ cửa nhà ông, mấy khi mà sung rụng ngay chỗ nằm!
Đọc tiếp »
Viên Dung
nước hụt
đất không còn chỗ đi
trong khi khúc quanh vây hãm
mấy ai muốn đời kẹt lại
mênh mông truông hành sống chết
mênh mông mây trời vẫy gọi đời
ở lại chịu đời sao nỗi
cũng đành trôi nổi ngoài khơi quê mình
Đọc tiếp »
Nguyễn Mạnh Trinh
Với tôi, thành phố Kontum có nhiều kỷ niệm. Đơn vị tôi đồn trú ở phi trường Cù Hanh ở Pleiku nhưng thường ghé B15, một căn cứ Lôi Hổ ở đầu thi xã hay đến phi trường sửa chữa phi cơ cấp tốc để có thể bay trở về phi đạo Pleiku. Những năm 1970, việc đi lại giữa Pleiku và Kontum khá dễ dàng yên ổn, có nhiều khi chúng tôi lái xe về trên quốc lộ buổi chiều, khi các con ngựa sắt đặt trên mặt đường nhựa đã được kéo ra để kiểm soát lưu thông và coi như giới nghiêm không cho xe cộ qua lại và chúng tôi phải xuống xe kéo con ngựa sắt để đi qua…
Đọc tiếp »
Quảng Tánh Trần Cầm
xác người nhiều năm qua
làm phân bón cho rừng lồ ô
ngút ngàn, xanh thẳm
nắng xuyên vòm cao rực rỡ
sương vờn lá
tan vào thinh không
trong cát bụi hoang vu
ai người nằm xuống
ai người vò võ đợi trông
Đọc tiếp »
Trang Châu
Vào thập niên 90, thỉnh thoảng tôi đọc được trên các báo văn học vài bài thơ tình ký tên Sương Mai và thích những câu thơ chân thật, dễ thương, đậm đà nhạc tính của tác giả. Không ngờ ngót hai chục năm sau tôi vui gặp tác giả vừa sang định cư ngay tại Montréal, thành phố tôi đang ở kể từ khi bỏ nước ra đi năm 1975. Vui hơn nữa tác giả nhận lời gia nhập Văn Bút nơi Vùng tôi đang trách nhiệm cùng ký tặng tôi tác phẩm thứ 4 của bà: Thi phẩm Yêu Dấu Tan Theo, xuất bản tại Hoa kỳ năm 2003.
Đọc xong tập thơ tôi bàng hoàng, bàng hoàng bởi nhiều lẽ: bề dày của thi phẩm, hơn 400 trăm trang; nội dung đầy ắp thơ tình, khoảng 300 trăm bài mà ba phần tư thơ tình này lại là thơ đau khổ vì tình. Rồi tôi tự hỏi nếu 3 tác phẩm xuất bản trước (Chút Hương Xưa, 1996 – Thơ Tình Sương Mai, 1998 – Trăng Mộng, 2000) cũng toàn là thơ, cũng có bề dày như tập Yêu Dấu Tan Theo, cũng toàn là thơ tình và ba phần tư thơ tình cũng là thơ đau khổ vì tình thì cọng lại tác giả đã sáng tác cả ngàn bài thơ tình trong phải có khoảng 700 bài thơ đau khổ vì tình. Phải nói ra như thế để thấy cái động cơ thúc đẩy sáng tác mạnh như thế nào và mối tình của Sương Mai lớn đến cỡ nào mà nó có thể dằn vặt con tim của tác giả qua bao năm tháng dãi dầu.
Đọc tiếp »
Nguyễn An Bình
Có cửa biển nào sống mãi trong anh
Một rừng bần xanh bao mùa đơm trái
Đỏ dòng phù sa đắp bồi sông cái
Tấm lòng chia bùi sẻ ngọt gừng cay.
Có cánh đồng năng phèn nặng bao ngày
Nuôi lớn con người tháng năm chinh chiến
Một đời cha ông lấn rừng bám biển
Cho cá đầy thuyền mỗi chuyến ra khơi.
Đọc tiếp »
Song Anh
ở quê (hương) tôi
thiên hạ khoái chửi thề
sáng thức dậy
ra ngồi cà phê vỉa hè
tụ ba tụ năm
người này chửi
đụ mẹ tụi nó mới lấy đất của tao
người kia chửi
đụ mẹ tụi nó mới đập phá chùa
nhà thờ
tu viện
di tích lịch sử
– đụ mẹ ở đâu?
– đụ mẹ chỗ nào?
đụ mẹ…đụ mẹ…vang trời
Đọc tiếp »
Trần Yên Hòa
Căn nhà của cha mẹ tôi dựng trên một khu đất rộng, chung quanh có hàng rào, là những cây chè tàu được cắt ngay hàng thẳng lối, có cổng ra vào được xây cao, có bức tường thành bằng quánh bao bọc.
Tôi nhớ là tôi ở trần, ở truồng, bò quanh khu nhà bếp một mình. Nhà không có ai, mẹ tôi đi chợ, cha tôi đi làm ruộng, còn anh Giảng và chị Khiêm bỏ đi đâu không biết. Tôi một mình, bò qua, bò lại nơi ảng nước, nơi cối xay lúa, cối giả gạo. Bùn đất lấm lem, tôi vọc bùn, vọc nước, vọc đủ thứ. Tôi bò loanh quanh đợi mẹ đi chợ về, lúc đó tôi hai, ba tuổi gì đó.
Mẹ tôi đi chợ về thường mua cho tôi kẹo, tép phơi khô, hay bánh tráng, bánh đúc và bế tôi lên, đem tôi ra giếng tắm rửa. Xong, lau qua quít cho tôi, rồi cũng bỏ tôi bò lê bò la trong bếp, mẹ tôi còn phải đi cho heo ăn, đi nấu cơm cho cả nhà ăn buổi tối.
Đọc tiếp »
Khaly Chàm
những ngẫu tượng không hề chớp mắt
tất nhiên, những hiện thể ấy chẳng nhìn thấy được gì
sự tái tạo hào quang tỏa sắc màu được lập trình quy chuẩn khi ma trận phát lệnh nhấp nháy
có thể, chúng sinh cúi quỳ mọp người sát đất tâm linh sẽ thoát ra từ khe hở giữa mông
huyền nhiệm nhưng đã chắc gì là có thật
Đọc tiếp »
Hồ Chí Bửu
Bước rất chậm để tình không trợt té
Biết chắc rồi kinh điển của nhân gian
Đường trăm hoa hay đường chiều vắng vẻ
Ta nâng niu chút tình nhỏ. Muộn màng
Lá vẫn rụng – hoa vẫn tàn – ta biết
Đời vô thường – vô ngã – có gì đâu
Hãy ru lại lời thơ tình da diết
Ngõ phù hư – ai cũng phải qua cầu
Đọc tiếp »
Mặc Phương Tử
Đại lễ VESAK 2018
Mặc dù Đức Phật đã xuất hiện trên trái đất cách nay 2.642 năm về trước, mãi cho đến ngày 15 tháng 12 năm 1999, Tổ chức Liên Hiệp Quốc mới biểu quyết chính thức công nhận và tuyên bố Đại lễ Phật Đản Quốc tế (Lễ Vesak – Tam hợp) tại trụ sở Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, New York City (Hoa Kỳ). và vào năm 2000, Đại lễ Vesak đã được tổ chức trọng thể đầu tiên tại trụ sở Liên Hiệp Quốc.
Chúng ta đang sống ở thế kỷ thứ 21, thế kỷ mà phần nhiều mọi người cho là thế kỷ của sự vươn mình lên tầm đỉnh phát triển khoa học, kỹ thuật, văn minh trong đời sống xã hội con người; và cũng có một số quan điểm, trong đó có phần phát biểu của một ít người theo Đạo Phật, cho là thời kỳ phát triển của “Văn hóa tâm linh” từ các thể thức tôn giáo.
Đọc tiếp »
Chu Vương Miện
Về Nguyễn Khuyến
tổng đốc ba tỉnh Sơn Hưng Tuyên
gặp lúc đất nước điêu linh
tiến thoái lưỡng nan
đành từ quan
về làng
tình thế khẩn trương
ai cũng lo thân
không ai chê
và cũng không khen?
cái học từ chương
thuộc làu sách sử kinh điển
thủa xửa thủa xưa
đậu đạt làm quan
rớt làm vườn
kiến thức trình độ có chừng đó
dễ làm
khó bỏ
Đọc tiếp »
Truyện Cổ Nhật Bản
Bắc Phong dịch từ bản tiếng Anh The Old Woman Who Lost Her Dumpling do Lafcadio Hearn (1850-1904) chuyển ngữ.
Ngày xửa, ngày xưa có một lão mẫu tính tiếu lâm, hay cười và thích làm bánh bao bằng bột gạo.
Một hôm, trong lúc đang làm bánh bao cho bữa tối, bà làm rớt một chiếc. Nó lăn vào cái lỗ trên sàn đất nhà bếp và biến mất. Lão mẫu cố moi nó lên bằng cách thọc tay xuống cái lỗ, rồi thốt nhiên đất sụp, thế là bà cũng lọt luôn xuống hố.
Lão mẫu rơi khá sâu, nhưng không hề hấn gì. Lúc đứng dậy được trên đôi chân, bà thấy mình đang ở một con lộ giống như con lộ trước nhà mình. Trời thật sáng dưới đó, lão mẫu thấy khá nhiều những đồng lúa, nhưng chẳng một bóng người. Cớ sự ra sao, tôi chẳng biết. Nhưng dường như lão mẫu đã rơi xuống một xứ nào khác.
Đọc tiếp »
Trần Huy Sao
ta nay ngồi chỗ không kén chỗ
chỉ ngồi trên ghế dưới hiên trăng
tranh đua tranh sống chi thêm khổ
giờ về bấu víu giữ thăng bằng
ý nói về vui thú điền viên
kén cá chọn canh thêm phiền dỗi
rộn rã ta bà rồi hô biến
bụi cát qui hồi cát bụi thôi
Đọc tiếp »