Zulu DC


Nhà thơ Trần Thoại Nguyên

Trời lạnh, tôi đứng bên nầy sông Santa Ana, sau cơn mưa nước sông cũng chỉ như dòng suối, nhưng bên cạnh là mặt hồ rộng của công viên Centennial. Tôi tưởng tượng điếu thuốc Pall Mall trên môi và nhìn làn khói trắng tan vào trong gió, thói quen để chống trả cảnh hiu hắt và giá lạnh giữa biển khơi thuở nào. Hình ảnh đã xa lắm, nhưng hôm nay đứng đây, bất chợt tôi liên tưởng đến anh bạn Trần Thoại Nguyên (TTN), trên tay lúc nào cũng kẹp điếu thuốc. Và mơ hồ, nhân vật Tất Đạt trong “Câu chuyện Dòng Sông” của Hermann Hesse. Hai nhân vật không liên quan gì với nhau, nhưng cùng lúc cả hai hiện hữu trong trí nhớ của tôi.

Trần Thoại Nguyên – người bạn kết nối từ những dòng thơ trên FaceBook – Tất Đạt và TTN mỗi người một tính cách. Tất Đạt, sau khi từ bỏ lý thuyết và những điều thầy (Cồ Đàm) dạy, đi tìm cho mình lý thuyết tốt đẹp hơn với một ý chí thép – đạt tới đích hoặc chết.
Đọc tiếp »

Trần Thoại Nguyên
Tặng Bạn hiền Zulu DC Cao Hạo Nhiên

Năm tàn nguyệt tận đêm trừ tịch
Xa xứ lòng ai chẳng ngậm ngùi.
Huống nỗi quê xưa bao thảm kịch
Đau thương đất Mẹ lệ than ôi!

Buồn xuyên thế kỷ ta lữ thứ
Sóng vỗ ầm vang dội biển đông.
Hỡi kẻ rước voi dày mả tổ
Hoàng Sa vết chém…máu Tiên Rồng…!
Đọc tiếp »

Trần Mộng Tú
Cho Teresa Uyên Chi Đỗ

Cô cháu tôi (con út của em gái tôi) chỉ còn hai tháng nữa được 39 tuổi bỗng một ngày như mọi ngày, khám phá ra bị ung thư gan ở giai đoạn cuối. Một loại ung thư gan, bác sĩ nói không chữa được. Cái ngày đó không còn như mọi ngày nữa. Đất trời như lật ngược, cả nhà, rồi cả họ, rơi vào tình trạng hoảng hốt chạy chung quanh cô như đèn kéo quân. Ngoài cha mẹ, chồng con, anh chị em ruột, cô dì chú bác các anh em họ hai bên nội ngoại, còn thêm bạn học, bạn nơi làm việc. Tất cả cộng vào thành một số người không nhỏ cùng chạy đua với căn bệnh hiểm nghèo của cô.

Sau 18 tháng chạy chữa, (bây giờ cô đã bước vào tuổi 40) bắt đầu bằng Chemo rồi được thử những loại thuốc mới nhất trị ung thư gan, mỗi loại thử ba tháng, lá gan vẫn mỗi ngày một tăng trưởng, to bằng một trái dưa hấu thật lớn trong bụng, cứng như đá tảng. Bác sĩ buông tay, tuyên bố ngưng chữa trị, giao cô vào chương trình Hospice. May mắn cô có người anh rể làm y tá cho bệnh nhân Hospice kinh nghiệm nhiều năm rồi, nên cô được săn sóc ở nhà.
Đọc tiếp »

Nguyễn Hàn Chung

Lăn lộn tung hoành
trong các cuộc thanh niên
anh biết rõ đủ thứ mùi
mùi nước hoa, mùi phấn sáp
mùi kem dưỡng da
mùi thân thể đàn bà
mùi tục lụy…

Khi tàn cuộc
anh biết rõ đủ thứ mùi
mùi đói rát ruột
mùi khát cháy lưỡi
mùi gián, mùi chuột chết, mùi ẩm mốc
mùi nhọt nưng mủ
mùi máu tươi, mùi máu bầm
mùi thân thể rách bấy
mùi mất nhà mất vợ
mùi mất quyền công dân
Đọc tiếp »

Tháng giêng

Posted: 12/02/2019 in Thơ, Vũ Hoàng Thư

Vũ Hoàng Thư

em dáng mới tháng giêng về ngụ
giọt bích ngần thư thái vô ưu
ngày nguyên đán phô nguyên lời gió
tóc thơm mây rạng rỡ ca từ

tháng giêng tôi tiếng chim hót vội
gọi sương xuân chùa vắng về ngồi
hương trầm lan khi mùa xanh liễu
đại hồng chung ấm giọng nguyên khôi
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Đó là nói trại từ tiếng chửi thề chẳng đâu có được. Tabarnak. Hoàn toàn do địa phương này sáng chế ra. Phúc vẫn thích âm vực nặng nề ấy khi nghe Monisa phát âm, thường để chấm câu, quyết liệt, dứt khoát. Đôi khi kháu ó, đôi lúc phiền muộn; mặt khác chữ đó sử dụng tựa một quen miệng, vô thưởng vô phạt, chẳng nhằm bày rõ tâm trạng Monisa đang mang. Đi ngang qua tiệm bán áo quần ngoài phố, thấy treo chiếc váy đỏ kiêu sa nằm đằng sau tấm kính. Monisa trì hoãn cước bộ, nhìn vào và phát tiếng: Tabarnak! Cô đọng chỉ có thế, thay vì trầm trồ: Mẹ rượt, nó bắt con mắt quá. Nó đẹp quá mạng, bà con ơi!
Đọc tiếp »

Nguyễn Vĩnh Long

Ba Mươi tôi là Mùng Một em
Làn khói hương mang nắng qua thềm
Trong thiêng liêng có bao hình bóng
Theo gió bên ngoài lạnh suốt đêm

Qua sáng Mùng Ba ngày vẫn vậy
Vẫn nắng mong manh thiếu cảnh nhà
Bên mân cúng đủ gà, xôi, rượu
Chỉ thiếu mặt người vẳng phương xa
Đọc tiếp »

Chùm thơ Tết

Posted: 12/02/2019 in Nguyễn Hiền, Thơ

Nguyễn Hiền

Giao thừa

tiếng chuông rớt những giọt khuya
thời gian lọc qua chiếc phin cà phê
đọng lại giờ giao thừa

Mùng một tết

vắng. lặng
chỉ nghe hơi thở rất nhẹ từ 3 cây nhang vừa đốt
và mùi hương trầm bay ra từ bàn thờ tổ tiên
Đọc tiếp »

Nguyễn Bảo Hưng

Xin thưa ngay rằng bài viết này là để giới thiệu bản dịch ra Pháp ngữ cuốn Mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam. Bản dịch do Liễu Trương thực hiện với tựa đề Un été embrasé được nhà xuất bản L’Harmattan phát hành và xếp ngay vào bộ Mémoires du XXème siècle. Đọc tới đây, chắc có người đã thầm nhủ: « Ôi dào! Tưởng cái gì mới lạ, chứ Mùa hè đỏ lửa ai mà chẳng biết tỏng tự hồi nảo tới giờ. Vậy mà cũng bày đặt đem ra giới thiệu; mà lại trịnh trọng giới thiệu một bản dịch cơ chứ. Nỡm chưa. Rõ thật là chán mớ đời ». Nghĩ vậy kể cũng đúng thôi. Chính vì có phần nào đúng mới lại xin thưa thêm rằng tựa sách Un été embrasé không phải là cho quí bác quí chú đâu, những bậc đàn anh đã trưởng thành trong khói lửa của thập niên 70 thế kỷ trước. Giờ này quí bác, quí chú đều ngấp nghé tuổi cập kê thấp tuần, bát tuần cả rồi nên tóc đã ngả màu muối tiêu, đầu óc bắt đầu sền sệt, còn cặp mắt hơi kèm nhèm cũng chỉ nhìn ra chữ nghĩa của một vài khẩu hiệu đấu tranh quen thuộc qua đôi mắt kiếng ngày càng mờ đục với thời gian. Bản dịch ra Pháp ngữ, do đó, là dành cho các thế hệ con cháu quí vị kia đấy, lớp người đã phải theo ông bà, cha mẹ rời bỏ quê hương khi còn nhỏ, hoặc được sinh ra nơi xứ người. Sống lâu năm nơi đất khách, thành phần thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba này không còn quen sử dụng tiếng mẹ đẻ và cũng chỉ có những hiểu biết mơ hồ về quê hương xứ sở, về các biến cố khiến ông bà, cha mẹ đã phải bỏ đất nước ra đi. Với lớp người thuộc các thế hệ sau này, được sống trong môi trường sinh hoạt tự do với tinh thần tìm hiểu khách quan hơn, bản dịch Mùa hè đỏ lửa sẽ là một tài liệu hữu ích, như lời người dịch khi thông báo, giúp họ được « hiểu biết thêm về cái thời khói lửa đau thương, để nhớ ơn những người đã nằm xuống và càng yêu thương đất nước hơn ».
Đọc tiếp »

Phan Thành Khương


Tượng Lý Thường Kiệt (1019-1105)

Ông là Lý Thường Kiệt,
Danh tướng nước Đại Việt.
Lập nên nhiều chiến công,
Lẫy lừng trận Như Nguyệt!

Đánh, đuổi bọn Tàu – Tống
Sang tận đất của chúng.
Lũ xâm lược khiếp sợ,
Bối rối và lúng túng!
Đọc tiếp »

Khê Kinh Kha

Nhạc và lời: Khê Kinh Kha; Tiếng hát: Ý Lan
ban_ky_am

Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3

Ngọc Ánh

Má à,

Con viết thư cho Má trong cái lạnh thấu xương của mùa đông nước Mỹ, thỉnh thoảng cũng có vài cơn mưa bất chợt làm con nhớ má vô cùng, cây mai trước nhà Má lặt lá hôm rằm chắc đang chớm nụ, không biết có kịp bung hoa sáng mồng một cho Má vui, tội nghiệp nó cũng suýt bị trộm mấy lần nên Má cột cả gốc lẫn cành bằng dây xích vào cửa sắt cho an toàn, ai thấy cũng cười, cái xứ gì lạ, tới cái cây, con chó cũng bị trộm vặt. Con nhớ vợ chồng ông hai trong hẻm nhỏ của mình sáng nào cũng thức sớm nhúm bếp luộc khoai chuối bán quanh năm mà vẫn không đủ sống, vay nợ bà bảy cứ đến chiều ba mươi là bị bả đứng chửi tới nửa đêm. Con nhớ tiếng rao chè khuya não nuột của cô tư đầu xóm bán ế quảy gánh ngang nhà. Con nhớ bác tám xích lô hay ngủ tạm trước hàng ba nhà mình chờ sáng chở mấy đứa nhỏ đi học kiếm chút tiền cơm…Họ nghèo từ mấy chục năm nay rồi. Tết này họ ra sao hả Má?
Đọc tiếp »

Hồ Chí Bửu

Còn những phôi pha…

Không còn không còn đâu
Những cánh chim bạc màu
Không còn không còn đâu
Tiếng đàn buồn đêm thâu

Ta bây giờ xa nhau
Biết mây bay phương nào
Ta không còn bên nhau
Chút tình buồn trăng sao
Đọc tiếp »

Qua kinh đào Suez

Posted: 11/02/2019 in Lê Quang Thông, Thơ

Lê Quang Thông

Trưa nay tàu neo nơi Hồ Nhỏ
Đợi thông đường qua kênh Suez.
Bờ phải châu Á, bờ trái châu Phi,
Anh và Em đã ở hai lục địa.

Không gian, đã xa muôn hải lý.
Thời gian, đã hơn tháng chia lìa.
Biết bao giờ qua đoạn phân ly?
Hải Âu ơi! Xin thành Ô Thước.
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Bà con kiều bào luôn là một phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc (Nguyễn Phú Trọng)
Mong kiều bào tích cực đóng góp xây dựng đất nước. (Nguyễn Xuân Phúc)

Lấy cớ tết nhất, tôi “hú” cả đống bạn bè tụ tập – uống sương sương vài chai – cho đỡ lạnh lòng viễn xứ. Sau khi cạn mấy ly đầy, và đầy vài ly cạn (rồi lại cạn mấy ly đầy nữa) thì chúng tôi đều “chợt thấy vui như trẻ thơ” – dù tất cả đã ngoài sáu muơi ráo trọi!

Xong “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương, cả đám tiếp tục đồng ca bài “Thằng Cuội.” Bản nhạc mà có lẽ đứa bé nào sinh trưởng ở miền Nam (vào thập niên 1950 – 60) cũng thuộc. Bài đồng dao này được nhạc sĩ Lê Thương viết bằng những lời lẽ rất tân kỳ, dù nền tân nhạc Việt Nam – ở thời điểm đó – còn ở giai đoạn phôi thai.

Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ …

Lặng nghe trăng gió hỏi nhau
Chị kia quê quán ở đâu
Gió không có nhà
Gió bay muôn phương
Biền biệt chẳng ngừng
Trên trời nước ta…”
Các con dế mèn suốt trong đêm khuya
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ

Đọc tiếp »

Chu Vương Miện

Đá mòn

đọc thơ Đường thơ cổ nhân
mây qua lầu hạc mấy lần tơ vương
nào ngờ hai ngả Sâm Thương
đông tây hai nẻo hai đường thong dong
vài năm lòng đã thay lòng
mặc cho con nước trên giòng cứ trôi
gần mà dầu đã xa côi
phân vân ngày cũ lỡ ngồi bên nhau
thôi còn chi nữa mà đau
cây đa ở lại thuyền rầu trôi đi  Đọc tiếp »

Phạm Thanh Nghiên


Chị Phượng
Nguồn hình: Nguyễn Tín

Sáng mồng 10/1/2019, hai ngày sau khi nhà cửa của chúng tôi bị phá huỷ, tôi trở về Vườn rau. Đã hẹn với lòng mình sẽ không khóc. Nhưng khi tận mắt chứng kiến cả một vùng đất thân thương giờ biến thành đống đổ nát hoang tàn, tôi không cầm lòng được.

Tôi bật khóc. Con ngõ quen thuộc, những luống rau xanh mướt, những căn nhà trọ của xóm lao động nghèo đã hoàn toàn biến mất sau chỉ một đêm. Tôi dò dẫm, bước từng bước liêu xiêu trên đống đổ nát, đôi chân run rẩy như chực ngã. Tôi không ngăn được dòng nước mắt và tiếng nấc ngẹn trong cổ họng.

Không còn phân biệt được ranh giới của những căn nhà trọ. Chỉ có con đường mòn, nhỏ xíu dẫn vào khu trọ nhà chị Phượng là tôi nhận ra. Tôi cứ đi theo hướng ấy. Thỉnh thoảng, tôi lại gặp một vài người dân Vườn rau, ngồi khóc trên đống đổ nát mà chỉ mấy hôm trước thôi, nó vẫn là ngôi nhà mà họ đi lại, cười nói, sinh sống trong ấy. Có người không khóc được, cứ đứng bần thần như người mất hồn.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Năm nay trời thật lạ. Vừa cúng đưa Ông Táo về trời, Ông Trời lại làm mặt giận. Đang nắng đó bỗng rồi vần vũ mây đen, mưa hạt đều từ buổi sáng kéo dài tới trưa. Điệu này còn có thể kéo dài thêm tới chiều, tới tối và cả ngày mai.

Sáng sớm, dì Ba Thanh Hồng của tôi lo điểm phấn tô son. Dì tô đôi môi đỏ chót, kẻ đôi mắt xanh lè. Tiếng nói cuả Dì không còn chua như giấm, đổi tông, ngọt lịm như đường phèn. Nhưng khi đứng ở cửa sổ nhìn ra bầu trời vần vũ mây đen, nghe tiếng mưa bắt đầu nặng hạt trên mái, Dì không nén được, xỉa xói Ông Trời một thôi một đỗi. Phút giây đó, cái nét dịu dàng của người đàn bà biến mất, lại hiện nguyên hình “con hồ ly tinh”, ‘bà chằn lửa”. Đó là những biệt danh mà dì Tư Thanh Cẩm thường gọi dì Ba Thanh Hồng chứ tôi thì làm gì mà dám. Có cho ăn kẹo chocolat hay là xí-muội-muối-đường (là những món mà tôi rất thích) tôi cũng chẳng ham. Dì mà nghe được thì chỉ có mà trốn biệt. Dì sẽ ngắt, sẽ véo đau thấu trời xanh. Nhìn mấy móng tay đỏ chói, nhọn hoắt của Dì, tôi muốn phát sốt gây cả người.
Đọc tiếp »

Nguyễn Hàn Chung

Đốt một nén nhang không khói
gửi về đất tổ quê cha
nắm đất im lìm không nói
mà nghe nghèn nghẹn âm ba

Con người sinh ra từ đất
thì sẽ trở về đất thôi
nếu như không về với đất
thì cũng theo dòng nước trôi
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh Trinh

Cuối năm âm lịch, tảo mộ. Thời tiết lạnh lạnh của những cơn gió thổi qua nhắc đến những ý tưởng nào tưởng đã xa xôi nhưng có lúc lại gần gũi. Câu thơ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” như nhắc lại một thời văn chương đã qua, những chân dung văn học đã vắng bóng. Buổi trưa, vào thăm từng ngôi mộ cũa những nhà văn nhà thơ vừa đi khuất, đọc những vần thơ ghi khắc trên bia mộ, chột thấy lòng bâng khuâng. Hình ảnh còn đây, ngôn ngữ còn đây. Nhưng người thì đã đi vào cõi vô thủy vô chung. Cái còn để lại, là những tác phẩm để đời, là những câu thơ vẫn cứ hoài trong trí nhớ của những người yêu mến.
Đọc tiếp »

Lòng nhân

Posted: 07/02/2019 in Hồ Đình Nghiêm, Thơ

Hồ Đình Nghiêm

Báo đăng có một người:
gom tiền hơn mười năm
dành dụm mở quán cơm
từ thiện giúp người nghèo.

Hôm sau sáng màn hình:
Cụ bà mười tám năm
đi lượm ve chai bán
lấy tiền giúp học trò
khó khăn sắm giấy bút.
Đọc tiếp »

Nguyễn Văn Thuấn

Thơ: Nguyễn An Bình; Nhạc: Nguyễn Văn Thuấn; Tiếng hát: Thu Hà
ban_ky_am

Nguồn: Nhà thơ Nguyễn An Bình gửi nhạc và âm bản mp3

Đỗ Trường

Trời đã lập xuân, vậy mà gió bấc vẫn như những ngọn roi quất vào mặt người. Màn đêm đổ xuống thật nhanh. Bãi ven sông làng Trà Hương, Khúc Giang ánh đuốc bừng lên. Tiếng va chạm binh khí, tiếng reo hò của các binh sĩ vang cả một khúc sông. Từ trong bóng tối, tiếng vó ngựa dồn dập, thấp thoáng lao nhanh về phía trung quân. Nhận ra Mạc Hiển, anh em Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng chống đao, hét binh sĩ ngừng tập. Chắc chắn có việc cần kíp, Lạng vội đỡ Hiển xuống ngựa. Lạng chưa hỏi, Hiển đã bảo, có thư khẩn của Sứ quân Phạm Bạch Hổ và Đinh Bộ Lĩnh. Hiện Sứ quân đã về với Lĩnh, hợp binh ở Hoa Lư Động. Theo sự tiến cử của Sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh mời Trà Hương tướng sĩ chúng ta về Hoa Lư cùng mưu nghiệp lớn.
Đọc tiếp »

Bà Triệu

Posted: 07/02/2019 in Phan Thành Khương, Thơ

Phan Thành Khương


Bà Triệu (225-248)

Có một người con gái
Tên là Triệu Thị Trinh,
Cha mẹ đều mất sớm,
Anh nuôi dạy tận tình.

Bọn Đông Ngô xâm lược
Hống hách và ngang ngược,
Tội ác chúng gây ra,
Giấy nào ghi hết được!
Đọc tiếp »

Quảng Tánh Trần Cầm

Một buổi sáng ở tu viện Pháp Vương

gửi Trang Chu, muộn

rạng đông ̶ ánh hồng nở rộ
nắng sớm sưởi ấm vòm cây
một ngày rực rỡ vươn dậy
và người nhẹ nhàng chấp cánh
vượt thoát ̶ bay vào lãng quên
như đã trăm năm
không một dấu chân
không một di ảnh
chỉ còn những cánh hoa jacaranda tím lịm
rơi rụng trên tượng đá nứt chân
mắt đăm chiêu dõi về
bên nầy, hay bên kia dòng đời?
nào ai biết
nào ai hay
Đọc tiếp »

Nguyễn T. Long


Russell Drysdale (1912 – 1981)

Cho tới giữa thế kỷ XX, cộng đồng thế giới vẫn nhìn nước Úc ở Nam bán cầu (có hỗn danh là down under) như một phó bản mờ nhạt của Vương quốc Anh cho dù Úc đã trở thành một Liên bang độc lập theo quân chủ lập hiến từ 1901.

Người Anh qua Úc thì hoá thành người Úc như một lý đương nhiên (cho dù vẫn nghĩ mình là người Anh) nhưng người Anh sống ở xứ Úc qua nhiều thế hệ thì có còn là người Anh nữa không? Đây trở thành vấn đề của bản sắc, của căn cước dân tộc; người ta đi tìm một cái “Úc tính” (một thời được gọi là “Australianness”, một ý niệm mà ngày nay chẳng còn ai nhắc đến nữa). Không biết khi người Việt từ miền Bắc và miền Trung trở thành những lưu dân trong cuộc Nam tiến vào đất Chiêm Thành từ 4/5 thế kỷ trước, tổ tiên ta cũng có những phức cảm tâm lý tương tự như vậy chăng?
Đọc tiếp »

Hoàng Xuân Sơn

Thơ bông phèng. tết ủn ỉn

xướng âm

âm quá. không cù rủ mặt đường
giữa mùa băng cực níu tai ương
ngón chân tìm một lỗ để thở
cùng tóc râu túa đời tha phương

40 năm xỏ giày mang ủng
không dám. chưa quen cái lạnh tràn
hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang
Đọc tiếp »

Phan Tấn Hải

Rất mực gian nan để kể lại chuyện của rất nhiều thập niên trước. Trí nhớ tôi bây giờ lúc nào cũng lãng đãng, sương mù. Khi khởi lên ý định kể lại mấy chuyện thời nhỏ, chỉ thấy hiện lại trong trí nhớ một khoảng sân trắng, mấy đứa nhóc quậy phá, những lọ mực tím, những tập vở kẽ hàng, mấy bàn học, lối đi có hai hàng tre xanh, âm vang trong đầu là tiếng ê a đánh vần… Tôi đã điện thoại để hỏi chị tôi về tên của vài người xa thật xa, nhưng cũng chỉ được vài phần, những nét kể lại cứ như hư, như thực.

Xóm Chuồng Bò thì nhớ tên rồi. Hình ảnh con bò thực ra lúc đó không còn nữa. Đúng ra cứ khi rạng sáng, khi nghe lộp cộp trên đường là biết ngay xe thổ mộ (may quá, còn nhớ chữ này, chứ không lại bảo là xe ngựa thì chẳng giống ai) từ trong Xóm Chuồng Bò chạy ra Chợ Hòa Hưng. Còn xóm ao rau muống thì chẳng thể nhớ tên gì. Lối đi từ nhà tôi vào Xóm Chuồng Bò có vài hẻm, những bụi tre xanh cao vút bên đường, dẫn tới mấy ao rau muống trong tận mấy xóm sâu. Lúc đó phía dưới là cát trắng.
Đọc tiếp »

Nguyễn Thị Khánh Minh


The Dream
Marc Chagall

Xứ chiêm bao

Dường như tôi đã đứng ở đó
Nơi ánh sáng đã lọc hết cặn đêm
Cùng hệ lụy ác mộng
Những thầm lặng nhẹ nhàng trỗi dậy
Trong suốt. Nhẹ bẫng. Run rẩy
Những tia nhìn không còn phải dấu kín nỗi đau
Như bình minh tung nắng
Như hàng cây bung lá
Như con đường mở rộng
Ngày đêm đếm sự trôi qua
Bằng trật tự nhịp nhàng của tiếng chim hót. Hoa nở và tàn
Mưa nắng thuận mùa. Đi và đến
Cánh đồng lúa lên bông trĩu hạt
Dưới những mái nhà kia có người ra vào
Quây quần bên bữa ăn đầy đặn
Bảo bọc bé thơ, ca hát và đi học
Nơi góc vườn kia. Dưới nắng sớm và chiều thu
Có Emily ngồi làm thơ bên cửa sổ
Dường như tôi đã đứng ở đó
Và nhặt được một đóa hoa hồng
Thơm chiêm bao
Nơi. Những vì vua họp bàn vì hạnh phúc lê dân
Những người lính gác mùa màng
Những người già và nhà thơ ngồi kể chuyện thần tiên
Trong bờ đêm bay rất nhiều đom đóm
Đọc tiếp »

Đỗ Quyên

Thật tình, với cái đời thơ chưa có gì gọi là đáng, nhưng kẻ viết bài vẫn liều đem nó ra bảo đảm điều này: Những ai đã làm thơ, dù ít dẫu nhiều, có thể không ưa mùa hè, chẳng ham mùa đông, thậm chí ái ngại mùa thu (mùa biểu tượng cho nỗi buồn mà nỗi buồn thường được xem là nguồn cơn của thi ca). Song, họ ắt phải viết về mùa xuân! Tức là, phàm đã làm thơ thì phải có xuân, ở đâu đó ngang dọc đường thơ của tác giả.

Cớ sao vậy? Dễ thôi… Bởi mùa xuân là mùa tình. Thơ ca là gì nếu không phải là tình cảm, tình ý, tình tứ của thi sĩ với người, với đời, với thiên nhiên?
Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử

Tự tình đêm Giao Thừa

Muôn hoa nở, Ý thơm đầy
Xứ người ta vẫn sum vầy đón xuân.
Sá chi trên bước phong trần
Sá chi đâu, giữa miền nhân ảnh nầy!

Giao Thừa hội ngộ nhau đây
Chiên đàn thoảng,
Nến ngọc đầy lung linh.
Bổng trầm nhịp mõ lời kinh
Mỗi người, mỗi một tâm tình quê hương.
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Đường đời muôn vạn nẻo
Đâu lối về quê hương?

(Giao Chỉ – Vũ Văn Lộc)

Xong mấy việc lặt vặt ở Nam Vang, tôi qua Chiang Rai. Đây là một tỉnh lỵ ở cực bắc của Thái Lan – nằm một phần trong khu Tam Giác Vàng – thuộc vùng tam biên giữa Miến, Lào và Thái. Vì không “gây thương để nhớ” cho ai – ngoài dăm ba đứa trẻ thơ đen đủi, và ngơ ngác giữa Biển Hồ – nên tôi cứ lặng lẽ mà đi thôi, chả có song ca (hay hát đôi) bài Biệt Ly với bất cứ ai!

Ấy thế mà vừa xuống phi trường Mae Fah Luang, đã thấy tin nhắn của cố nhân qua fb:

– Còn ở Phnom Penh không?

Đáp:

– Sang Thái rồi. Tính mai chạy lên Tam Giác Vàng, rồi mốt đi bộ qua Miến Điện chơi chút xíu…

– Trời! Muốn qua Burma thì nên xin visa cho nó đàng hoàng, dù có hơi tốn kém và mất công hơn chút xíu. Cũng như Golden Triangle, Myanmar không phải là đất lành đâu nha – thí chủ à!
Đọc tiếp »

Trần Yên Thảo

1.
Đếm cho hết cát sông Hằng
cũng nào dám đọ chim Bằng cá Côn
cầm như vượt cả Vũ Môn
cũng đâu dám sánh cá Côn chim Bằng.

2.
Chưa hề thấy nặng đôi vai
ngộ ra, thầy vốn mát tay chỉ đường
trần ai dù rất khó lường
cũng qua gần hết dặm trường nhiêu khê.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

Trước đây, nhà thơ Bắc Phong sống cùng địa phương, sinh hoạt với anh em chúng tôi: Nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn… Về sau, do công việc anh dọn về thành phố Toronto, cách chốn cũ sáu giờ lái xe. Trong thầm lặng, anh đơn thân dựng được trang Sáng Tạo và để nhớ bằng hữu phương nọ, anh cho chúng tôi góp mặt ở nhóm chủ trương.

Ở xa, chúng tôi chỉ có thể “bắt tay” với nhà thơ Bắc Phong bằng vào mỗi một cách: Đóng góp bài. Và chúng tôi đã vui sướng với thành quả mà Bắc Phong gặt hái được. Riêng cá nhân tôi, Sáng Tạo là trang mạng lôi cuốn tôi nhất, hợp tạng tôi nhất, vì ở đó thường khi vẫn xuất hiện những tiếng nói, những nỗi lòng uất nghẹn trình bày qua thơ văn. Tôi vẫn “ngoan cố” với ý nghĩ, rằng người làm văn học nghệ thuật phải biết chia sẻ những đớn đau quanh ta, khi nạn nhân không đủ tỉnh táo để đưa lời trần tình, một tiếng than van. Dửng dưng, lãnh cảm, vô ngại, chính điều đó đã mang “anh” đi xa tôi. Anh tự khoanh vùng, tách biệt. Quan niệm sáng tác của anh không thích vấy tới những thứ “rắc rối” nọ. Tôi tôn trọng, và tôi có nhuốm chút buồn lòng.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Tâm sự chiều ba mươi tết

xin thưa cùng với bà con
ở nơi tui ngụ đang còn trớn mưa
túi ni là đón Giao Thừa
tạ trời đất tạ ơn mùa giao thoa
đèn nhang e thấm can qua
lời ân tạ giạt mưa sa giọt đầy
rớt mưa lộp độp như vầy
làm răng nghe đặng lời cầu xin chi

một năm chờ đợi phút ni
răng mưa phá đám cách chi vậy trời

Đọc tiếp »

Khổng thị Thanh-Hương

Mới đó mà mẹ tôi đã mất hơn 100 ngày.  Mới đó mà đã hơn 100 ngày!  Nỗi nhớ thương mẹ đôi khi đến bất chợt như một cánh chim bay vèo từ trên ngọn dừa xuống sân cỏ hay như những giọt mưa nhẹ như tơ trong một ngày nắng ấm.  Không phải bao giờ tôi cũng bình tĩnh và làm chủ được lòng mình.  Có khi tôi ngăn được nước mắt.  Có khi tôi chịu thua, để cho dòng lệ âm ỉ trong tim rồi trào lên từ khóe mắt, làm ướt đẫm hàng mi.  Những lúc như thế, tôi vội đi ra khỏi tầm nhìn của người chồng khác miền khác tỉnh.

Từ tháng Mười tới giờ đã trải qua mấy ngày Lễ lớn.  Lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh và chỉ còn hai hôm nữa là tới Tết Nguyên Đán.  Tết đến khi xa nhà nhớ mẹ mười phần.  Năm nay, Tết đến khi mẹ không còn trên cõi trần khiến tôi nhớ mẹ trăm lần nhiều hơn, dù có ai đã an ủi “Mẹ bao giờ cũng ở trong tim ta.”  Tôi nhớ về những cái Tết có mẹ, từ khi còn ở bên quê nhà, cho tới những ngày mừng năm mới bên quê người, hơn 40 năm qua.
Đọc tiếp »

Yên Nhiên

Nấu bánh chưng

Nước sôi chăm chút phải thường xuyên
Củi lửa châm đều chớ có quên
Nén bánh cho rền nhờ em nhé
Cỗ bàn ngày tết mới nên duyên
Đọc tiếp »

Song Thao

Nói tới “tết” người ta nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán. Nhưng tết đâu phải chỉ là thời gian giao mùa giữa năm mới và năm cũ. Ngoài Tết Nguyên Đán, chúng ta còn có Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu. Vậy tết là một ngày hội, một ngày vui được dân gian đón nhận. Những khi năm cùng tháng tận, tôi thường ôn lại dĩ vãng, nhớ lại những gì mình làm được cũng như chưa làm được trong năm cũ. Nhưng, từ bao năm nay, nỗi nhớ dằng dai hơn nhiều, từ ngày được tha khỏi cái gọi là trại cải tạo của Việt cộng. Đối với những người đã bước chân vào vòng tù mà không có tội, án cũng chẳng có, ngày tháng mênh mông như trong những đám mây, thời gian như một thách đố không có lời giải đáp, chuyện được thả cho về với gia đình là chuyện chết đi sống lại. Đó mới là ngày vui, ngày hội, ngày tết đích thực. Ngày về là…tết!
Đọc tiếp »

Lê Quang Thông

Bây giờ em ở Việt nam,
đêm mơ chưa sáng, ngày tàn ở đây.
Phương xa mong ngóng phương nầy.
Nhớ nhau, ngước mắt nhìn mây ngang đầu.

Đời ơi! trăm độ bể dâu,
nghe tàn phai đã mấy mầu thời gian.
Sầu đông quê cũ lá tàn,
Và hoa mứt trắng hai hàng ngõ xưa?  Đọc tiếp »

Rừng

Posted: 04/02/2019 in Ngự Thuyết, Truyện Ngắn

Ngự Thuyết

Trí nhớ của tôi thường bội bạc. Hoặc thiên vị. Trong cuộc sống, có biết bao nhiêu sự kiện đã ghi sâu vào ký ức của tôi. Và cũng vô số sự kiện khác trôi qua đời tôi như nước trôi đầu vịt,  không để lại dấu vết gì. Lại có những chi tiết tôi cho là đáng nhớ, chẳng hạn, khi đã khôn lớn, lần đầu tiên cầm vô – lăng lái chiếc xe hơi, nhưng tôi không thể nào nhớ được đấy là xe hiệu gì, đi đâu, lúc nào, đi với ai, với mục đích gì. Trong khi đó, ký ức về người đàn bà thành phố lỡ bước vào một nơi rừng rú lại thường trở lại với tôi rất rõ nét.

Chiều nay, một chiều cuối năm, ngồi một mình bên tách trà quên uống đã nguội lạnh, tôi lẩn thẩn ôn lại những ngày qua, và hình ảnh người đàn bà ấy lại nổi bật kéo theo nhiều chuỗi hồi ức khác tưởng đâu đã hoàn toàn bị quên lãng.

Chuyện xẩy ra cách đây hơn nửa thế kỷ.
Đọc tiếp »